Kỷ Niệm 101 Năm Ngày Báo Chí Cách Mạng Việt Nam

115 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước và khát vọng giải phóng dân tộc Việt Nam

Ngày 05/6/1911, từ Bến Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Văn Ba lên tàu Amiral Latouche-Tréville, bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước. Sự kiện đó đã đi vào lịch sử dân tộc như một dấu mốc đặc biệt quan trọng, không chỉ là chuyến đi vượt đại dương của một cá nhân mà còn là sự khởi đầu cho một hành trình lịch sử vĩ đại, mở ra con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người Việt Nam khỏi ách áp bức, nô dịch của thực dân, phong kiến.

Ngày 05/6/1911, từ Bến Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Văn Ba với khát vọng cháy bỏng giành lại độc lập cho dân tộc đã lên tàu Amiral Latouche-Tréville, bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước. Sự kiện đó đã đi vào lịch sử dân tộc như một dấu mốc đặc biệt quan trọng, không chỉ là chuyến đi vượt đại dương của một cá nhân mà còn là sự khởi đầu cho một hành trình lịch sử vĩ đại, mở ra con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người Việt Nam khỏi ách áp bức, nô dịch của thực dân, phong kiến.

Kỷ niệm 115 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 - 5/6/2026) là dịp để mỗi người dân Việt Nam nhìn lại ý nghĩa lịch sử to lớn của sự kiện này, đồng thời tiếp tục khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong thời đại mới.

Từ khát vọng cứu nước trước nỗi đau mất nước đến quyết định lịch sử

Tháng 9 năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam. Sau 26 năm, ngày 6/6/1884, với việc triều đình Nhà Nguyễn ký hiệp định Patonot đầu hàng, thực dân Pháp hoàn thành xâm lược, bước vào thời kỳ thống trị Việt Nam. Trong và sau quá xâm lược, các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp phát triển mạnh mẽ theo nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau, thu hút được các tầng lớp Nhân dân tham gia tiêu biểu như: Phong trào đấu tranh của quý tộc phong kiến – Phong trào cần vương (1885 – 1896) do vua Hàm Nghi lãnh đạo; Phong trào đấu tranh của nông dân – Phong trào nông dân Yên Thế (1884 – 1913); Phong trào đấu tranh của tư sản, tiểu tư sản Việt Nam: phong trào Đông Du (1905 – 1908); Duy Tân 1907; Việt Nam Quốc dân Đảng (1927 – 1930),…

          Mặc dù phát triển và gây được tiếng vang lớn, nhưng tất cả các phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đều thất bại. Sự thất bại đó là tất yếu, bởi vì các phong trào yêu nước thiếu đường lối cách mạng khoa học đúng đắn phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam; thiếu một tổ chức lãnh đạo có khả năng giác ngộ, phát huy quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; chưa xác định được phương pháp đấu tranh thích hợp để đánh đổ kẻ thù,… Cách mạng Việt Nam lâm vào khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước, nhiệm vụ lịch sử cấp thiết đặt ra lúc này cho các thế hệ yêu nước Việt Nam đương thời là cần có đường lối cứu nước đúng đắn, có một tổ chức cách mạng tiên phong để cứu nước giải phóng dân tộc.

Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước ở vùng đất “địa linh nhân kiệt” Nghệ An, lớn lên giữa cảnh nước mất, dân lầm than khổ cực, Nguyễn Tất Thành sớm nhận thức sâu sắc nỗi đau mất nước và số phận cơ cực của nhân dân. Người không chỉ chứng kiến những bất công trong xã hội thuộc địa mà còn trăn trở trước những thất bại của các phong trào yêu nước đương thời.

Bến Nhà Rồng năm 1911, nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước
Bến Nhà Rồng năm 1911, nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, tại Bến Nhà Rồng, người thanh niên Nguyễn Tất Thành lấy tên là Văn Ba xin làm phụ bếp trên tàu Amiral Latouche-Tréville để ra nước ngoài. Khác với nhiều nhà yêu nước cùng thời, Nguyễn Tất Thành không đi theo những con đường đã có sẵn (phương Đông), với tư duy độc lập, tinh thần tự chủ và tầm nhìn vượt thời đại, Người quyết định đi một hướng hoàn toàn mới – sang phương Tây để tận mắt tìm hiểu thế giới, nghiên cứu những cuộc cách mạng đã thành công và tìm kiếm con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam.

Với mục đích “Tôi muốn đi ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác làm như thế nào rồi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”. Câu nói giản dị ấy chứa đựng một ý chí lớn lao và một tầm nhìn chiến lược hiếm có. Đó là khát vọng cứu nước xuất phát từ lòng yêu nước, thương dân nồng nàn, từ trách nhiệm đối với dân tộc và nhân dân. Sự kiện này không chỉ là bước ngoặt trong cuộc đời Nguyễn Tất Thành mà còn là bước ngoặt của lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ đây bắt đầu hành trình ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, cứu dân, hoạt động cách mạng, hành trình dẫn tới sự ra đời của một đường lối cách mạng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam.

Tàu Amiral Latouche-Tréville - nơi Bác xin làm nghề phụ bếp trong hành trình tìm đường cứu nước năm 1911
Tàu Amiral Latouche-Tréville - nơi Bác xin làm nghề phụ bếp trong hành trình tìm đường cứu nước năm 1911

Có thể nói, quyết định ra đi tìm đường cứu nước của người thanh niên xứ Nghệ - Nguyễn Tất Thành là kết quả của quá trình suy nghĩ, trăn trở sâu sắc về vận mệnh quốc gia, dân tộc. Đó không phải là một chuyến đi mang tính ngẫu hứng mà là sự lựa chọn đầy bản lĩnh của một nhà cách mạng tương lai. Điều đặc biệt là ngay từ khi ra đi, Nguyễn Tất Thành đã xác định rõ mục tiêu: tìm con đường cứu nước giải phóng dân tộc gắn liền với cứu dân. Đây chính là điểm khác biệt căn bản giữa Người với nhiều nhà yêu nước đương thời. Nếu một số người đặt hy vọng vào sự giúp đỡ từ bên ngoài hoặc những cải cách trong khuôn khổ chế độ thuộc địa thì Nguyễn Tất Thành quyết tâm tìm một hướng đi mới, con đường mới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.

Hành trình khảo nghiệm thực tiễn cách mạng thế giới và tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc

Từ năm 1911 đến năm 1920, Nguyễn Tất Thành đã đi qua nhiều quốc gia thuộc các châu lục khác nhau từ châu Á đến châu Phi, châu Âu và châu Mỹ. Người vừa lao động kiếm sống vừa quan sát, nghiên cứu xã hội, tìm hiểu đời sống của nhân dân lao động và bản chất của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân. Qua những năm tháng bôn ba ấy, Người nhận thấy ở đâu người lao động cũng bị bóc lột, áp bức; đồng thời nhận ra bản chất phản động của chủ nghĩa thực dân không chỉ đối với các dân tộc thuộc địa mà cả đối với nhân dân lao động ở chính quốc: “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”. Người nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới (cách mạng tư sản Mỹ 1776, cách mạng Pháp 1789). Người đánh giá cao tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái và quyền con người của cách mạng tư sản Mỹ, cách mạng tư sản Pháp… nhưng cũng nhận thức rõ những hạn chế của các cuộc cách mạng tư sản. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc khẳng định con đường cách mạng tư sản không thể đem lại độc lập, tự do và hạnh phúc cho nhân dân các nước nói chung, nhân dân Việt Nam nói riêng.

Bước ngoặt quyết định trong hành trình cứu nước giải phóng dân tộc của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khi Người đọc được “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I. Lênin vào tháng 7 năm 1920. Qua đó tìm thấy lời giải cho bài toán cứu nước mà mình đã kiên trì tìm kiếm suốt gần mười năm qua. Sau này khi hồi tưởng lại sự kiện đó, Người xúc động kể lại: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao”.

Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (12/1920) Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản của Đảng xã hội Pháp và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người - từ người yêu nước trở thành người cộng sản và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Đây là một phát hiện mang tính lịch sử. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, vấn đề giải phóng dân tộc được đặt trong mối quan hệ với phong trào cách mạng vô sản thế giới. Từ đó mở ra con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội – con đường đã được thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh là hoàn toàn đúng đắn.

Mở đường cho những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam

Sau khi tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mùa Xuân năm 1930, dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản được tiến hành từ ngày 6/1 – 7/2/1930, Hội nghị đã quyết định hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một chính đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài nhiều thập niên, mở ra thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc – thời kỳ đấu tranh giành độc lập. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh), nhân dân Việt Nam đã làm nên những thắng lợi vẻ vang, “kinh thiên động địa”: Đó là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước cộng hòa đầu tiên ở Đông Nam Á; Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954) với đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa Xuân năm 1975.

Những thắng lợi ấy đều bắt nguồn từ con đường mà Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã lựa chọn từ cuộc hành trình tìm đường cứu nước năm 1911. Lịch sử đã chứng minh quyết định ra đi tìm đường cứu nước của người thanh niên Nguyễn Tất Thành từ Bến Nhà Rồng không chỉ thay đổi cuộc đời của một con người mà còn làm thay đổi vận mệnh của cả dân tộc Việt Nam.

Giá trị lịch sử và thời đại của hành trình tìm đường cứu nước

Hơn một thế kỷ trôi qua, những sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước ngày 5 tháng 6 năm 1911 vẫn luôn mang ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại sâu sắc.

Trước hết, đó là biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước và ý chí độc lập dân tộc. Trong hoàn cảnh đất nước chìm trong nô lệ, Nguyễn Tất Thành đã dám vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để tìm con đường cứu nước. Tinh thần ấy trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho nhiều thế hệ người Việt Nam sau này. Hành trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh là bài học lớn về tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo. Người không rập khuôn, giáo điều, không đi theo lối mòn cũ mà luôn xuất phát từ thực tiễn để tìm lời giải cho những vấn đề của dân tộc. Sự kiện ra đi tìm đường cứu nước của Bác đã khẳng định giá trị sức mạnh của việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới. Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, tạo nên những thành công có ý nghĩa lịch sử. Hành trình tìm đường cứu nước của Bác thể hiện khát vọng cống hiến và tinh thần phụng sự Tổ quốc, dân tộc và nhân dân như Người từng khẳng định: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Ngày nay, sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực. Việt Nam đã bước sang một giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen. Từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu, Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, có quan hệ ngoại giao với hơn 190 quốc gia trên thế giới, tham gia sâu rộng vào các thể chế kinh tế và chính trị quốc tế. Tuy nhiên, trước những biến động nhanh chóng của tình hình thế giới, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đã, đang đặt ra những nhiệm vụ mới cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Trong bối cảnh đó, việc kỷ niệm 115 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước không chỉ là việc ôn lại truyền thống lịch sử, tri ân công lao trời biển của Người đã mang lại cho dân tộc, mà còn có ý nghĩa khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, tinh thần đổi mới sáng tạo và ý chí vươn lên của dân tộc Việt Nam. Quyết định ra đi tìm đường cứu nước ngày 05/6/1911 thể hiện tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám mở lối tìm hướng đi mới, con đường mới của Nguyễn Tất Thành cần tiếp tục được kế thừa, phát huy trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế hiện nay.

115 năm đã trôi qua kể từ ngày người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời Bến Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước, nhưng ý nghĩa lịch sử của sự kiện ấy vẫn vẹn nguyên giá trị. Hành trình tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp của lòng yêu nước, ý chí độc lập, tinh thần tự lực tự cường và khát vọng giải phóng dân tộc. Từ bước chân ra đi năm 1911 đã mở ra con đường dẫn tới những thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam, đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, đưa nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến mất độc lập trở thành quốc gia độc lập, thống nhất và đang từng bước phát triển mạnh mẽ trên trường quốc tế.

Kỷ niệm 115 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước là dịp để mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam thêm tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc, tiếp tục học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy ý chí tự cường, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; chung sức xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, văn minh, hiện thực hóa khát vọng phát triển dân tộc trong kỷ nguyên mới.

Văn Chương