Kỷ Niệm 101 Năm Ngày Báo Chí Cách Mạng Việt Nam

Hoàn thiện Luật An toàn thực phẩm theo hướng minh bạch, khả thi, giảm gánh nặng thủ tục

Bộ Y tế đang khẩn trương hoàn thiện hồ sơ dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), hướng tới đổi mới phương thức quản lý, tăng cường chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả hậu kiểm, đồng thời bảo đảm tính khả thi, minh bạch, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Quang cảnh cuộc họp (Ảnh: BYT)
Quang cảnh cuộc họp (Ảnh: BYT)

Chiều 17/6, Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên chủ trì cuộc họp với Tổ soạn thảo dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) nhằm rà soát, tiếp thu và giải trình các ý kiến thẩm định sơ bộ của Bộ Tư pháp trước khi hoàn thiện hồ sơ trình cấp có thẩm quyền.

Tại cuộc họp, các thành viên Tổ soạn thảo tập trung phân tích, làm rõ những nội dung còn vướng mắc trong 5 nhóm chính sách lớn của dự án luật, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến tính khả thi, đánh giá tác động, cải cách phương thức quản lý và chuyển đổi số trong lĩnh vực an toàn thực phẩm.

Làm rõ lộ trình, đánh giá đầy đủ tác động chính sách

Đối với Chính sách 1 về nâng cao điều kiện sản xuất thực phẩm, Bộ Tư pháp đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ lộ trình áp dụng các tiêu chuẩn như GHP, HACCP, ISO, BRC đối với các cơ sở sản xuất thực phẩm. Đồng thời, báo cáo đánh giá tác động cần phân tích cụ thể hơn phạm vi ảnh hưởng, mức độ tác động cũng như khả năng đáp ứng của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Với Chính sách 2 về cải cách phương thức quản lý và cơ chế kiểm tra thực phẩm trên thị trường, Bộ Tư pháp cho rằng hồ sơ chưa làm rõ định hướng hoàn thiện hệ thống kiểm nghiệm phục vụ quản lý nhà nước cũng như cơ chế kiểm duyệt trong hoạt động thương mại điện tử đối với thực phẩm.

Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm Chu Quốc Thịnh phát biểu (Ảnh: BYT)
Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm Chu Quốc Thịnh phát biểu (Ảnh: BYT)

Cơ quan thẩm định đề nghị Tổ soạn thảo làm rõ đối tượng áp dụng, trách nhiệm thực hiện và đánh giá đầy đủ sự khác biệt giữa cơ chế quản lý trong Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) với các quy định hiện hành của pháp luật về thương mại điện tử, tránh chồng chéo trong quá trình thực thi.

Đối với Chính sách 3 về xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia liên thông về an toàn thực phẩm, Bộ Tư pháp đề nghị làm rõ việc tích hợp các hệ thống cảnh báo nhanh, cảnh báo sự cố quốc gia cũng như quy định về định danh, xác thực điện tử, truy xuất nguồn gốc, mã số, mã vạch và nhãn điện tử.

Riêng Chính sách 4 về quản lý thức ăn đường phố và suất ăn tập thể cơ bản nhận được sự đồng thuận, không phát sinh thêm ý kiến.

Đối với Chính sách 5 về hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước theo hướng thống nhất từ Trung ương đến địa phương, Bộ Tư pháp đề nghị rà soát lại thời điểm triển khai mô hình, đồng thời bổ sung đánh giá tác động đối với biên chế, tổ chức bộ máy nếu thành lập Phòng An toàn thực phẩm trực thuộc UBND cấp xã.

Chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm thông minh

Bên cạnh các ý kiến thẩm định, nhiều chuyên gia, nhà quản lý cho rằng Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) cần chuyển mạnh tư duy quản lý từ kiểm soát sản phẩm sang quản trị rủi ro, đồng thời đổi mới phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm thông minh.

TS Nguyễn Huy Quang – Trưởng Ban Tư vấn, Phản biện và Giám định xã hội của Tổng hội Y học Việt Nam; nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Y tế phát biểu (Ảnh: BYT)
TS Nguyễn Huy Quang – Trưởng Ban Tư vấn, Phản biện và Giám định xã hội của Tổng hội Y học Việt Nam; nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Y tế phát biểu (Ảnh: BYT)

Theo các đại biểu, thay vì phụ thuộc nhiều vào hồ sơ giấy tờ, hệ thống quản lý cần được số hóa, hình thành cơ sở dữ liệu "sống", bảo đảm kết nối liên thông, hỗ trợ cảnh báo sớm, phát hiện nguy cơ và can thiệp kịp thời đối với các sự cố an toàn thực phẩm.

Đặc biệt, dự thảo luật cần bổ sung các giải pháp phòng ngừa gian lận thực phẩm, từ nguồn gốc nguyên liệu, thành phần, chất lượng, hồ sơ công bố, kiểm nghiệm, nhãn hàng, quảng cáo đến truy xuất nguồn gốc. Đồng thời, xây dựng cơ chế chủ động ứng phó với các hành vi cố ý gây ô nhiễm, đầu độc hoặc lợi dụng chuỗi cung ứng thực phẩm để gây mất an toàn cho cộng đồng, ảnh hưởng đến an ninh kinh tế và an ninh quốc gia.

Một số ý kiến cũng đề nghị Tổ soạn thảo tiếp tục hoàn thiện báo cáo đánh giá tác động theo hướng định lượng cụ thể hơn, làm rõ chi phí tuân thủ đối với doanh nghiệp, khả năng thích ứng của các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ cũng như xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả sau khi luật được ban hành.

Các đại biểu tham gia thảo luận tại phiên họp (Ảnh: BYT)
Các đại biểu tham gia thảo luận tại phiên họp (Ảnh: BYT)

Hoàn thiện dự thảo luật theo hướng minh bạch, khả thi

Kết luận cuộc họp, Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên ghi nhận tinh thần trách nhiệm của Cục An toàn thực phẩm, Vụ Pháp chế cùng các đơn vị liên quan trong quá trình phối hợp xây dựng dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi).

Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên phát biểu kết luận tại cuộc họp (Ảnh: BYT)
Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên phát biểu kết luận tại cuộc họp (Ảnh: BYT)

Thứ trưởng yêu cầu đơn vị đầu mối tiếp tục bám sát tiến độ thẩm định của Bộ Tư pháp, khẩn trương hoàn thiện báo cáo tiếp thu, giải trình trên cơ sở các căn cứ pháp lý, cơ sở thực tiễn và các ý kiến góp ý của các bộ, ngành.

Đối với Chính sách 3, Thứ trưởng yêu cầu nghiên cứu xây dựng quy định cụ thể về cơ sở dữ liệu quốc gia và hệ thống truy xuất nguồn gốc xuyên suốt từ khâu nuôi trồng, sản xuất, chế biến đến tiêu dùng. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để xây dựng bản đồ nguy cơ mất an toàn thực phẩm, phục vụ công tác cảnh báo, phòng ngừa và quản lý rủi ro trong thời gian tới.

Nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm tính khả thi của dự án luật, Thứ trưởng Đỗ Xuân Tuyên đề nghị nội dung giải trình phải có căn cứ thực tiễn, minh bạch, đồng thời tạo môi trường pháp lý thông thoáng, giảm gánh nặng thủ tục hành chính, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển nhưng vẫn bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước.

Song song với việc hoàn thiện hồ sơ dự án luật, Bộ Y tế sẽ tiếp tục hoàn chỉnh đầy đủ các tài liệu trình Chính phủ theo đúng quy định, bảo đảm nguyên tắc "6 rõ", đồng thời xây dựng dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) theo hướng dễ hiểu, dễ thực hiện, khả thi, cụ thể và minh bạch, đáp ứng yêu cầu quản lý trong bối cảnh mới.