Kỷ Niệm 101 Năm Ngày Báo Chí Cách Mạng Việt Nam

Những dấu ấn lịch sử qua các kỳ Đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam

Kể từ khi thành lập năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua 13 kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc và bắt đầu bước vào nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Qua mỗi kỳ đại hội của Đảng là những mốc son lịch sử trọng đại gắn liền với những thắng lợi, thành tựu, bài học kinh nghiệm và tiến trình lịch sử Việt Nam.

  1. 1. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Đảng

Từ ngày 27 – 31/3/1935, tại Ma Cao (Trung Quốc), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Đảng họp. Tham dự đại hội có 13 đại biểu thuộc các chi bộ đảng trong nước và tổ chức của Đảng hoạt động ở nước ngoài thay mặt cho 552 đảng viên trong toàn Đảng. Đại hội bầu Ban chấp hành Trung ương do đồng chí Lê Hồng Phong làm Tổng Bí thư, bầu đoàn đại biểu đi dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc được cử làm đại diện của Đảng bên cạnh Quốc tế Cộng sản.

Đây là đại hội duy nhất của Đảng họp tại nước ngoài. Đại hội lần thứ I của Đảng là một sự kiện lịch sử trọng đại, đánh dấu cuộc đấu tranh, bảo vệ và khôi phục, thống nhất hệ thống tổ chức của Đảng từ trung ương đến cơ sở đã hoàn tất. Từ đây, Đảng có điều kiện để bước vào lãnh đạo cuộc đấu tranh trong tình hình mới.

  1. 2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng
  2. Quang cảnh Đại hội lần thứ II của Đảng. Ảnh: dangcongsan.vn
    Quang cảnh Đại hội lần thứ II của Đảng (Ảnh: dangcongsan.vn)

    Từ ngày 11 – 19/2/1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng họp tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Tham dự đại hội có 211 đại biểu (trong đó có 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết) thay mặt cho hơn 766.000 đảng viên toàn Đảng. Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 19 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương đã bầu ra Bộ Chính trị gồm 7 ủy viên chính thức và 01 ủy viên dự khuyết. Đại hội bầu đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Đảng, đồng chí Trường Chinh được bầu lại làm Tổng Bí thư.

Đại hội II của Đảng đã thông qua Chính Cương Đảng Lao động Việt Nam – Bản Cương lĩnh chính trị thứ 3 của Đảng tiếp tục hoàn thành giải phóng dân tộc phát triển dân chủ nhân dân tiến tới xã hội chủ nghĩa. Đại hội đã quyết định tách Đảng Cộng sản Đông Dương thành 3 đảng riêng. Tại Việt Nam, Đảng ra hoạt động công khai (sau 6 năm hoạt động bí mật từ 11/11/1945) lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam. Đại hội II đánh dấu một bước tiến mới của Đảng về mọi mặt, là “Đại hội kháng chiến kiến quốc”, “thúc đẩy kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng Lao động Việt Nam”.

  1. 3. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng
  2. Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 5 đến 10-9-1960. Ảnh tư liệu.
    Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 5 đến 10-9-1960 (Ảnh tư liệu)

    Đại hội đại biểu toàn quốc làn thứ III của Đảng họp từ ngày 05 – 10/9/1960 tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự đại hội có 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết, thay mặt cho hơn 500.000 đảng viên trong cả nước. Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 47 ủy viên chính thức, 31 ủy viên dự khuyết; Bầu Bộ Chính trị gồm 11 ủy viên chính thức và 02 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Hồ Chí Minh tiếp tục được bầu làm Chủ tịch Đảng. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ Nhất Ban Chấp hành Trung ương.

Đại hội III của Đảng đã hoàn chỉnh đường lối chiến lược chung của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, đó là tiến hành đồng thời và kết hợp chặt chẽ hai chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, nhằm thực hiện mục tiêu chung trước mắt của cả nước là giải phóng miền Nam, hòa bình, thống nhất Tổ quốc. Đặt trong bối cảnh Việt Nam và quốc tế lúc bấy giờ, đường lối chung của cách mạng Việt Nam đã thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng ta trong việc giải quyết những vấn đề không có tiền lệ lịch sử, vừa đúng với thực tiễn Việt Nam, vừa phù hợp với lợi ích của nhân loại và xu thế của thời đại.

  1. 4. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng được tiến hành từ ngày 14 đến ngày 20/12/1976 tại Hà Nội. Dự Đại hội có 1008 đại biểu, thay mặt cho hơn 1,5 triệu đảng viên trong cả nước, có 29 đoàn đại biểu của các Đảng và Tổ chức quốc tế. Đại hội đã thông qua: Báo cáo Chính trị, Báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976 - 1980); Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng; quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam và sửa đổi điều lệ Đảng; Bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa IV bầu các ủy viên; Bộ Chính trị, Ban bí thư, đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

Đại hội lần thứ IV của Đảng là đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, khẳng định và xác định đường lối đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

  1. 5. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng

Đại hội tiến hành tại thủ đô Hà Nội từ ngày 27 đến ngày 31/3/1982. Dự Đại hội có 1.033 đại biểu thay mặt cho hơn 1,7 triệu đảng viên trong cả nước, có 47 đoàn đại biểu các đảng cộng sản và công nhân, các tổ chức cách mạng trên thế giới. Đại hội thông qua: Báo cáo chính trị, Báo cáo phương hướng nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu về kinh tế - xã hội trong 5 năm 1981 – 1985; Báo cáo về cáo về công tác xây dựng Đảng và bổ sung điều lệ Đảng. Bầu BCH Trung ương khóa V gồm 116 ủy viên chính thức, Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên chính thức. Đồng chí Lê Duẩn được bầu lại làm Tổng Bí thư của Đảng.

Đại hội xác định cách mạng Việt Nam có hai nhiệm vụ chiến lược: Một là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; Hai là sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đại hội V của Đảng đã có những bước phát triển nhận thức mới, tìm tòi đổi mới trong bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trước hết là về mặt kinh tế.

  1. 6. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng
  2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng. Ảnh tư liệu
    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (Ảnh tư liệu)

    Từ ngày 15 đến 18/12/1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp tại thủ đô Hà Nội. Dự đại hội có 1.129 đại biểu thay mặt cho gần 2 triệu đảng viên cả nước trong cả nước, 32 đoàn đại biểu quốc tế đến dự. Đại hội đã thông qua các văn kiện chính trị quan trọng, khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện, bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 124 ủy viên chính thức, Bầu Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên chính thức, đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

Đại hội VI của Đảng có ý nghĩa lịch sử trọng đại, đánh dấu một bước ngoặt trong sự nghiệp quá độ lên chủ nghĩa xã hội và mở ra thời kỳ phát triển mới cho cách mạng Việt Nam. Đại hội đã tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, thể hiện quan điểm đổi mới toàn diện đất nước, đặt nền tảng cho việc tìm ra con đường thích hợp đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Các văn kiện của Đại hội mang tính chất khoa học và cách mạng, lãnh đạo cách mạng Việt Nam tiếp tục phát triển.

  1. 7. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng

Từ ngày 24/6 đến 27/6/1991, Đại hội VII của Đảng họp tại Hà Nội với sự tham dự của 1.176 đại biểu thay mặt cho trên 2 triệu đảng viên cả nước. Các đoàn đại biểu Đảng cộng sản Liên Xô, Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Đảng nhân dân cách mạng Campuchia, Đảng cộng sản Cuba và nhiều khách quốc tế tham dự. Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa VII gồm 146 đồng chí. Hội nghị Trung ương lần thứ Nhất bầu Bộ Chính trị gồm 13 đồng chí. Đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đại hội VII của Đảng là “Đại hội của trí tuệ - đổi mới, dân chủ - kỷ cương – đoàn kết”, đã hoạch định con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm của Việt Nam. Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, qua đó đã giải đáp đúng đắn vấn đề cơ bản nhất của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đặt nền tảng đoàn kết, thống nhất giữ tư tưởng với hành động, tạo ra sức mạnh tổng hợp đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục phát triển.

  1. 8. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra từ ngày 28-6 đến 1/7/1996, tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội. Dự Đại hội có 1198 đại biểu thay mặt cho hơn 2.1 triệu đảng viên. Đồng chí Đỗ Mười tiếp tục được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đại hội VIII đánh dấu bước ngoặt của Đảng, đưa nước ta sang thời kỳ mới – thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

  1. 9. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng

Từ ngày 19 đến ngày 22/4/2001, Đại hội IX của Đảng đã họp tại Hà Nội. Dự Đại hội IX có 1.168 đại biểu, thay mặt cho hơn 2,2 triệu đảng viên trong cả nước. Ngoài thông qua các văn kiện chính trị quan trọng như các kỳ Đại hội Đảng, nội dung mới của Đại hội IX là thông qua Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010 và bầu đồng chí Nông Đức Mạnh làm Tổng Bí thư của Đảng.

  Đại hội lần thứ IX của Đảng là đại hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết, đưa nước ta bước vào thế kỷ mới, thiên niên kỷ mới. Đại hội lần thứ IX của Đảng tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, đánh dấu bước trưởng thành về nhận thức vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phát triển và cụ thể hoá Cương lĩnh chính trị năm 1991 của Đảng trong những năm đầu của thế kỷ XXI.

  1. 10. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng

Đại hội X của Đảng họp tại Hà Nội, họp từ ngày 18 đến ngày 25/4/2006, vào thời điểm đất nước đã trải qua 20 năm đổi mới, đạt những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Đất nước có sự thay đổi cơ bản, toàn diện, thế và lực, uy tín quốc tế tăng lên nhiều so với trước. Tình hình quốc tế diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta có những thuận lợi và cơ hội lớn, nhưng cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức không thể xem thường.

Dự Đại hội có 1.176 đại biểu, thay mặt cho hơn 3,1 triệu đảng viên trong cả nước. Đại hội đã thông qua các Văn kiện chính trị và bầu BCH TW khóa X gồm 160 ủy viên, 21 ủy viên dự khuyết; Bộ chính trị gồm 14 đồng chí; đồng chí Nông Đức Mạnh tiếp tục được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

Đại hội X của Đảng là dấu mốc quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các văn kiện được thông qua tại Đại hội X là kết tinh trí tuệ và ý chí của toàn Đảng, toàn dân quyết tâm đổi mới toàn diện, phát triển với tốc độ nhanh và bền vững hơn trong thời kỳ mới.

  1. 11. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
  2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng diễn ra từ ngày 12 đến ngày 19-1-2011. Ảnh: ĐỨC ANH
    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng diễn ra từ ngày 12 đến ngày 19-1-2011 (Ảnh: ĐỨC ANH)

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng họp từ ngày 12 đến ngày 19/1/2011, trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp…Dự Đại hội có 1.377 đại biểu thay mặt cho 3,6 triệu đảng viên của cả nước. Đại hội đã bầu ra BCH Trung ương gồm 175 Ủy viên Trung ương chính thức, 25 ủy viên dự khuyết, Bộ Chính trị gồm 14 người, đồng chí Nguyễn Phú Trọng được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

Đại hội tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991 – 2011) và 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (2001 – 2010); Thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển 2011). Cương lĩnh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về lý luận và thực tiễn, là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; thể hiện nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Cương lĩnh là cơ sở đoàn kết, thống nhất giữa tư tưởng với hành động của toàn Đảng, toàn dân, là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong những thập kỷ tới.

Đại hội XI thể hiện trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân ta, tiếp tục khẳng định, hoàn thiện và phát triển đường lối đổi mới trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

  1. 12. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

Đại hội XII của Đảng họp tại Hà Nội, từ ngày 21 đến 28/1/2016. Dự Đại hội có hơn 1.510 đại biểu thay mặt cho 4,6 triệu đảng viên trong toàn Đảng. Ngoài các nội dung như các Đại hội Đảng, cái mới của Đại hội XII là đã tổng kết 30 năm đổi mới, bầu 180 ủy viên Trung ương chính thức, 20 ủy viên dự khuyết, 19 ủy viên Bộ Chính trị và bầu lại đồng chí Nguyễn Phú Trọng làm Tổng Bí thư của Đảng.

Dấu ấn của Đại hội XII nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng với chủ đề: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.

Đại hội XII của Đảng là Đại hội “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đổi mới”, tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

  1. 13. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng
  2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Đảng Cộng sản Việt Nam khai mạc trọng thể tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia ở Thủ đô Hà Nội. Ảnh: TTXVN
    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Đảng Cộng sản Việt Nam khai mạc trọng thể tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia ở Thủ đô Hà Nội (Ảnh: TTXVN)

    Đại hội diễn ra từ ngày 25/1 đến ngày 1/2/2021 tại Thủ đô Hà Nội. Dự Đại hội có 1.587 đại biểu, đại diện cho hơn 5 triệu đảng viên trong cả nước. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII gồm 200 đồng chí, trong đó 180 đồng chí ủy viên chính thức, 20 đồng chí ủy viên dự khuyết; Bộ Chính trị gồm 18 đồng chí, đồng chí Nguyễn Phú Trọng được bầu lại làm Tổng Bí thư của Đảng.

Điểm nhấn của Đại hội XIII đó là tiếp tục nhấn mạnh tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

  1. 14. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
  2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức khai mạc sáng ngày 20/01/2026 - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức khai mạc sáng ngày 20/01/2026 (Ảnh: VGP/Nhật Bắc)

    Đại hội XIV của Đảng là sự kiện chính trị trọng đại của Đảng và dân tộc vừa diễn ra tại Thủ đô Hà Nội, từ ngày 19 – 23/1/2026 với phương châm “Đoàn kết, dân chủ, kỷ cương, đột phá, phát triển”. Đại hội XIV của Đảng có sự tham dự của 1.586 đại biểu, đại diện cho hơn 5,6 triệu đảng viên trong toàn Đảng. Đại hội bầu 180 ủy viên chính thức và 20 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Tô Lâm tiếp tục được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chủ đề của Đại hội là “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức đồng lòng, thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tự cường, tự tin bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.

Đại hội XIV của Đảng là sự kiện chính trị trọng đại của Đảng, của đất nước, đánh dấu mốc son lịch sử quan trọng, mở ra “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” Việt Nam. Đại hội XIV không chỉ đánh giá chặng đường đã qua mà còn hoạch định tầm nhìn chiến lược, tạo tiền đề vững chắc cho việc thực hiện các mục tiêu lớn vào năm 2030 (kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng), 2045 (kỷ niệm 100 năm thành lập nước). Đại hội xác định kỷ nguyên mới với mục tiêu xây dựng đất nước hòa bình, độc lập, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, dựa trên nền tảng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Kể từ khi thành lập đến nay, trải qua lịch sử 96 năm, qua các kỳ Đại hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng khẳng định vai trò lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và bản lĩnh chính trị vững vàng trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Mỗi kỳ Đại hội là một dấu mốc lịch sử quan trọng, thể hiện sự tổng kết sâu sắc thực tiễn, phát triển sáng tạo tư duy lý luận và kịp thời đề ra đường lối, chủ trương phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng. Từ đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước đến công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Đảng luôn giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời linh hoạt, sáng tạo trong phương thức lãnh đạo. Những dấu ấn lịch sử qua các kỳ Đại hội không chỉ phản ánh chặng đường phát triển của đất nước mà còn minh chứng cho năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và uy tín của Đảng trước dân tộc, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay và trong tương lai.

Văn Chương