Kỷ Niệm 101 Năm Ngày Báo Chí Cách Mạng Việt Nam

Luật BHXH năm 2024 mới: Tăng quyền lợi người lao động, nâng cao sức khỏe cộng đồng

Triển khai thực hiện Quyết định số 428/QĐ-BNV ngày 29/4/2025 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ với mục tiêu sớm đưa luật bảo hiểm xã hội (BHXH) năm 2024 mới vào cuộc sống nhằm khẳng định vai trò cốt lõi của BHXH trong giai đoạn mới, lấy người dân làm trung tâm trong việc chăm sóc nâng cao sức khỏe người lao động đặc biệt được chú trọng.

Ông Trần Thanh Nam – Cục Tiền lương – Bảo hiểm xã hội, Bộ Nội vụ, cho biết: “Thể chế hóa quan điểm, định hướng về cải cách chính sách BHXH tại Nghị quyết số 28-NQ/TW về bảo hiểm xã hội (BHXH) đa tầng như trợ cấp hưu trí xã hội, bảo hiểm xã hội cơ bản, bảo hiểm hưu trí bổ sung và nhiều nội dung cải cách khác”.

Theo Luật BHXH năm 2024, người lao động (NLĐ) giao kết hợp đồng với người sử dụng lao động (NSDLĐ) từ đủ 1 tháng trở lên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên.

Ông Trần Thanh Nam – Cục Tiền lương – Bảo hiểm xã hội, Bộ Nội vụ
Ông Trần Thanh Nam – Cục Tiền lương – Bảo hiểm xã hội, Bộ Nội vụ

Bên cạnh đó, NLĐ ký hợp đồng lao động (HĐLĐ) từ đủ 01 tháng trở lên, làm việc không trọn thời gian có tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thấp nhất (mức tham chiếu). Người quản lý doanh nghiệp, thành viên HĐQT, TGĐ, GĐ, thành viên Ban kiểm soát, người quản lý điều hành hợp tác xã, liên hiệp HTX…Không hưởng tiền lương, chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh. UBTVQH quyết định việc tham gia BHXH bắt buộc đối với đối tượng có việc làm, thu nhập ổn định, thường xuyên trên cơ sở đề xuất của Chính phủ, phù hợp với điều kiện phát triển KT-XH từng thời kỳ.

Người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc khi làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên với NSDLĐ tại Việt Nam, trừ các trường hợp như di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Tại thời điểm giao kết hợp đồng lao động đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

Trong trường hợp, người lao động ngừng việc vẫn hưởng tiền lương tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất thì đóng theo tiền lương được hưởng trong thời gian ngừng việc.

Đối với chế độ ốm đau sẽ được bổ sung quy định đối với trường hợp nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau không trọn ngày. Cùng với đó, HLĐ được quỹ BHXH đóng BHYT cho thời gian nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng. Với quy định thời gian hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động mắc bệnh cần chữa trị dài ngày thống nhất tính theo năm.

Việc giải quyết người lao động bị ốm đau dài ngày Luật BHXH 2024, nếu hết thời hạn hưởng chế độ ốm đau thông thường mà vẫn tiếp tục điều trị thì người lao động nghỉ việc do mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày được hưởng tiếp chế độ ốm đau với mức thấp hơn. Thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại khoản này tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ hằng tuần.

Lao động nữ mang thai từ đủ 22 tuần tuổi trở lên sẽ đủ điều kiện quy định mà bị sảy thai, phá thai, thai chết trong tử cung, thai chết trong khi chuyển dạ thì lao động nữ và người chồng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như trường hợp sinh con. Người lao động được quỹ BHXH đóng BHYT trong thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng.

 

Trường hợp phụ nữ sau khi sinh con mà con chết thì người mẹ được nghỉ việc hưởng trợ cấp thai sản đủ 6 tháng. Điều kiện để hưởng chế độ thai sản khi sinh con đối với NLĐ phải nghỉ việc để điều trị vô sinh là đã đóng BHXH bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng liền kề trước khi sinh con.

 

Theo đó, chế độ hưu trí sẽ được giảm số năm đóng BHXH tối thiểu để hưởng lương hưu từ 20 năm xuống 15 năm. Bổ sung cách tính tỷ lệ hưởng lương hưu đối với người có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng BHXH (lao động nam). Tăng mức trợ cấp một lần khi nghỉ hưu đối với trường hợp tiếp tục đóng sau tuổi nghỉ hưu. BHXH một lần: từ 01/7/2025 NLĐ được hưởng BHXH 1 lần khi thuộc 1 trong 6 trường hợp.

 

Trong công việc, tiền lương làm căn cứ đóng BHXH như người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương. Ngoài ra, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất bằng mức tham chiếu và cao nhất bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng.

 

Với mức trợ cấp một lần khi nghỉ hưu người lao động nam có từ 35 năm đóng BHXH trở lên, người lao động nữ có từ 30 năm đóng BHXH trở lên, mỗi năm đóng BHXH cao hơn được tính bằng 0,5 mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.

Trong trường hợp người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu mà tiếp tục đóng BHXH thì mức trợ cấp bằng 2 lần mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH cho mỗi năm đóng sau thời điểm đủ tuổi nghỉ hưu. Hơn nữa, trường hợp tử tuất cho phép thân nhân đủ điều kiện hưởng trợ cấp tuất hằng tháng có thể lựa chọn hưởng trợ cấp tuất một lần trong tất cả các trường hợp.

Đối với các khoản phụ cấp lương để bù đắp yếu tố về điều kiện lao động, tính chất phức tạp công việc, điều kiện sinh hoạt, mức độ thu hút lao động mà mức lương tại điểm a khoản này chưa được tính đến hoặc tính chưa đầy đủ, được thỏa thuận trong hợp đồng lao động; không bao gồm khoản phụ cấp lương phụ thuộc hoặc biến động theo năng suất lao động, quá trình làm việc và chất lượng thực hiện công việc của người lao động;

Về hành vi vi phạm chậm đóng, trốn đống BHXH đặc biệt nghiêm túc làm rõ nội hàm của chậm đóng, trốn đóng BHXH để làm cơ sở cho việc xử phạt vi phạm hành chín hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Quy định nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền và số ngày chậm đóng, trốn đóng BHXH. Sẽ không xem được xét trao tặng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng đối với DN chậm đóng, trốn đóng BHXH.

Như vậy, không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia BHXH bắt buộc trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định (30 ngày kể từ ngày người lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH).

Nếu trường hợp trốn BHXH bắt buộc, BHTN sau Sau 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định mà NSDLĐ không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia BHXH bắt buộc và  sau 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn phải tham gia BHTN theo quy định của pháp luật về BHTN mà NSDLĐ không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia BHTN.

Đặc biệt, không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký BHXH bắt buộc sau 60 ngày kể từ ngày đóng BHXH bắt buộc chậm nhất và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc. Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký BHTN sau 60 ngày kể từ ngày đóng BHTN chậm nhất theo quy định của pháp luật về BHTN và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc theo quy định.

Để thực hiện hiệu quả nên lưu ý một số điều như xác định đúng đối tượng thuộc diện tham gia BHXH đối với người lao động làm việc theo hợp đồng thử việc, hợp đồng học nghề, tập nghề (không thuộc diện tham gia BHXH). Hơn nữa, người lao động làm việc sau độ tuổi nghỉ hưu vẫn thuộc diện tham gia BHXH trừ trường hợp đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng. Người lao động là công dân nước ngoài làm việc ở Việt Nam, người lao động ký từ 02 HĐLĐ trở lên với NSDLĐ khác nhau.

Song song đó, xác định tiền lương làm căn cứ đóng BHXH và BHTN đối với NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định thì tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc là tiền lương tháng, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.