Kỷ Niệm 101 Năm Ngày Báo Chí Cách Mạng Việt Nam

Tháng Năm về Đất Mũi

Qua những câu thơ giàu cảm xúc, Tiến sĩ Luật Nguyễn Đình Trung - nguyên Viện trưởng Viện KSND Cấp cao 3 không chỉ gửi lời tri ân tới Hội đồng tư vấn và Ban Giám đốc Trung tâm UNESCO Văn hóa Thông tin Truyền thông mà còn lan tỏa tinh thần nhân ái, trách nhiệm cộng đồng và khơi dậy niềm tự hào trước lịch sử hào hùng của ông cha.

Tháng Năm về Đất Mũi

Tháng Năm về, ve ran trong vòm lá

Phượng hồng nghiêng đỏ rực những cung đường

Ta lại về thăm đất Mũi thân thương

Nơi cuối trời nghe dạt dào sóng nước.

Gió Sông Đốc gọi về miền ký ức

Bến năm xưa còn thổn thức chia phôi

 

Hơn bảy mươi năm ký ức bồi hồi

Ngày tập kết nghẹn lòng người đi ở.

Người bám đất giữa bưng biền khói lửa

Giữ rừng tràm, giữ đất Mũi quê hương

Người ra Bắc mang nặng mối nhớ thương

Xây hậu phương gửi lửa về Nam Bộ.

Từ miền Bắc đoàn quân như thác đổ

Xẻ Trường Sơn rực cháy tuổi hai mươi

Ba lô mang theo chí lớn sáng ngời

Vì độc lập vượt qua ngàn bom đạn.

Tàu không số mang hy sinh vô hạn

Vượt biển khơi qua bão đạn quân thù

Chở niềm tin cùng vũ khí, quân nhu

Về đất Mũi cho mùa xuân thống nhất.

Cà Mau đó –  đất kiên cường son sắt

Neo hồn thiêng nơi cuối đất non sông

Đón những chuyến tàu huyền thoại anh hùng

Viết lịch sử bằng máu xương bất khuất.

Nhớ những buổi tiễn đưa trong nước mắt

Cha mẹ tiễn con, vợ tiễn đưa chồng

Ánh mắt nhìn theo biển nước mênh mông

Nghe tim nhói giữa muôn trùng sóng gió.

 

Ngày chiến thắng tung bay màu cờ đỏ

Nụ cười đoàn viên chan chứa nghẹn ngào

Có những người đã hóa những vì sao

Sống bất tử giữa trời xanh đất nước.

 

Ta đứng lặng bên tượng đài Sông Đốc

Nghe thời gian thao thiết gọi tên người

Những anh hùng quên tuổi trẻ đôi mươi

Cho Tổ quốc nở hoa ngày thống nhất.

Thắp nén nhang nhớ người còn người mất

Những linh hồn hòa cùng sóng biển khơi

Tháng Năm về ve vẫn gọi không nguôi

Tiếng đất nước ngàn năm còn thôi thúc.

 

Phượng vẫn đỏ giữa một trời ký ức

Đất nước hôm nay hạnh phúc thanh bình

Hãy vững tin cùng dân tộc chuyển mình

Kỷ nguyên mới sáng ngời hồn nước Việt.

z7849332276869-20b4217d76584fbfd

 

Bài thơ “Tháng Năm về đất Mũi” của Nguyễn Đình Trung là một khúc tráng ca thấm đẫm chất sử thi và cảm xúc tri ân. Tác giả không chỉ tái hiện ký ức lịch sử của vùng đất Cà Mau – Đất Mũi, mà còn gửi gắm niềm tự hào dân tộc, lòng biết ơn đối với những thế hệ đã hy sinh cho độc lập, thống nhất đất nước.

Mở đầu bài thơ là không gian tháng Năm quen thuộc với “ve ran”, “phượng đỏ” — những hình ảnh gợi mùa hè, gợi ký ức. Nhưng khác với sắc thái học trò thường thấy, ở đây tháng Năm trở thành chiếc cầu nối đưa nhân vật trữ tình trở về với “đất Mũi thân thương”, nơi tận cùng Tổ quốc.

Câu thơ: “Nơi cuối trời nghe dạt dào sóng nước” mang âm hưởng vừa mênh mang địa lý, vừa sâu lắng tình quê. Từ cảm xúc hiện tại, bài thơ mở dần vào chiều sâu lịch sử. Những câu thơ viết về cuộc tập kết năm 1954 gợi nỗi đau chia cắt đầy xúc động: “Hơn bảy mươi năm ký ức bồi hồi Ngày tập kết nghẹn lòng người đi ở.” Hai chữ “nghẹn lòng” rất đắt. Nó không chỉ nói nỗi buồn ly biệt, mà còn hàm chứa sự hy sinh thầm lặng của cả dân tộc trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt. Người ở lại thì “giữ rừng tràm, giữ đất Mũi quê hương”, người ra Bắc lại “mang nặng mối nhớ thương”.

Hai đầu đất nước tuy xa cách nhưng cùng chung một lý tưởng. Phần hay nhất của bài thơ nằm ở mạch sử thi về cuộc kháng chiến chống Mỹ. Hình ảnh đoàn quân “xẻ Trường Sơn”, những con “tàu không số” vượt biển mang vũ khí vào Nam được tái hiện hào hùng nhưng không khô cứng.

Tác giả sử dụng nhiều động từ mạnh như “xẻ”, “vượt”, “cháy”, “mang”, tạo nhịp thơ dồn dập như bước hành quân của cả dân tộc. Đặc biệt, hình tượng “tàu không số” là điểm nhấn giàu giá trị lịch sử và cảm xúc: “Tàu không số mang hy sinh vô hạn/ Vượt biển khơi qua bão đạn quân thù”, chỉ hai câu thơ đã khắc họa được sự hiểm nguy, quả cảm của những con người làm nên huyền thoại đường Hồ Chí Minh trên biển. Chất sử thi ở đây hòa quyện cùng chất bi tráng, khiến bài thơ vừa hào hùng vừa lay động. Bên cạnh âm hưởng lớn lao của lịch sử, bài thơ vẫn dành chỗ cho những mất mát rất con người: “Cha mẹ tiễn con, vợ tiễn đưa chồng/Ánh mắt nhìn theo biển nước mênh mông”
Những cuộc chia ly ấy làm cho chiến tranh hiện lên không chỉ bằng chiến công mà còn bằng nước mắt. Chính điều đó khiến bài thơ có chiều sâu nhân bản, tránh được sự một chiều khẩu hiệu. Đoạn cuối bài thơ chuyển từ hồi tưởng sang suy ngẫm và khẳng định. Sau bao hy sinh, đất nước hôm nay đã “hạnh phúc thanh bình”. Câu kết: “Kỷ nguyên mới sáng ngời hồn nước Việt” mang âm hưởng tin tưởng, lạc quan, thể hiện niềm kỳ vọng vào tương lai dân tộc. Về nghệ thuật, bài thơ có giọng điệu trang trọng, giàu cảm xúc, đậm chất sử thi. Ngôn ngữ mộc mạc nhưng giàu hình ảnh; nhiều câu thơ có nhạc tính tốt, dễ tạo dư âm. Kết cấu theo dòng hồi tưởng lịch sử giúp cảm xúc phát triển tự nhiên, từ cảnh sắc hiện tại đến ký ức chiến tranh rồi hướng về tương lai đất nước.

z7849332806060-20639db57e43ade3f45f2c253bad231e-1175x800

Có thể nói, “Tháng Năm về đất Mũi” không chỉ là bài thơ về riêng Cà Mau hay Sông Đốc, mà còn là lời tri ân đối với cả một thế hệ đã hiến dâng tuổi trẻ cho Tổ quốc. Đọc bài thơ, người đọc cảm nhận rõ niềm tự hào dân tộc, sự biết ơn lịch sử và tình yêu sâu nặng với đất nước Việt Nam.

 

NĐT.5.2026