Kỷ Niệm 101 Năm Ngày Báo Chí Cách Mạng Việt Nam

Thanh Hóa sắp xếp lại 547 trạm y tế – hướng tới hệ thống y tế cơ sở tinh gọn, hiệu quả

Nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân và kiện toàn tổ chức bộ máy, tỉnh Thanh Hóa đang triển khai phương án sắp xếp lại toàn bộ 547 trạm y tế trên địa bàn. Đây là bước đi quan trọng trong quá trình xây dựng hệ thống y tế cơ sở hiện đại, tinh gọn, gần dân và hoạt động hiệu quả hơn.

Tái cấu trúc hệ thống y tế theo hướng gần dân hơn

Theo báo cáo của Sở Nội vụ Thanh Hóa, hiện toàn tỉnh có 71 đơn vị sự nghiệp công lập thuộc ngành y tế, trong đó 13 đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên, 51 đơn vị tự bảo đảm một phần và 7 đơn vị do ngân sách Nhà nước đảm bảo hoàn toàn.

Hệ thống y tế cơ sở của tỉnh hiện gồm các bệnh viện tuyến tỉnh, các trung tâm y tế chuyên khoa và 547 trạm y tế tại xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, nhiều trạm y tế quy mô nhỏ, phân tán, thiếu nhân lực và cơ sở vật chất chưa đồng đều.

Để khắc phục bất cập này, Thanh Hóa đang thực hiện phương án sắp xếp lại 547 trạm y tế thành 166 trạm y tế trực thuộc UBND cấp xã, thay vì thuộc các trung tâm y tế liên vùng như trước đây. Việc chuyển về cấp xã nhằm giúp công tác điều hành, quản lý nhân sự và phục vụ người dân trực tiếp, hiệu quả và gần gũi hơn.

anh-khoa-kham-benh-bvdk-tinh-thanh-hoa
Thanh Hóa đang triển khai phương án sắp xếp lại toàn bộ hệ thống y tế trên địa bàn (Ảnh minh họa)

Theo Sở Y tế Thanh Hóa, việc tổ chức lại trạm y tế theo mô hình trực thuộc chính quyền xã là bước đi phù hợp với xu hướng phân cấp quản lý hiện nay, trong đó chính quyền địa phương đóng vai trò trung tâm trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Mô hình mới giúp giảm tầng nấc trung gian, đồng thời tăng tính chủ động cho chính quyền xã trong việc lập kế hoạch chăm sóc sức khỏe nhân dân, triển khai tiêm chủng, phòng dịch, theo dõi bệnh mãn tính và bảo đảm an toàn y tế cộng đồng.

Bên cạnh đó, việc sáp nhập, tinh gọn cũng tạo điều kiện tập trung nguồn lực về con người và trang thiết bị, tránh tình trạng dàn trải. Các trạm y tế sau sắp xếp sẽ được đầu tư đồng bộ hơn về cơ sở vật chất, năng lực chuyên môn và công nghệ thông tin, hướng tới mô hình y tế cơ sở “số hóa, kết nối và phục vụ tận nơi”.

Giảm đầu mối, tăng hiệu quả quản lý

Trước đây, nhiều trạm y tế thuộc các trung tâm quản lý vùng khiến công tác điều hành chồng chéo, thiếu thống nhất. Với phương án mới, tỉnh giữ ổn định 71 đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giảm từ 547 xuống còn 166 đầu mối trạm y tế. Điều này giúp đơn giản hóa bộ máy, tăng hiệu quả giám sát và quản trị, đồng thời giảm chi phí hành chính, nhân sự và vận hành.

Các trạm y tế mới sẽ trực tiếp chịu sự chỉ đạo của UBND xã, hoạt động theo mô hình tự chủ một phần, phù hợp với định hướng phát triển hệ thống y tế cơ sở trong tình hình mới.

Sở Y tế Thanh Hóa cho biết việc sắp xếp sẽ được thực hiện từng bước, thận trọng, không làm gián đoạn hoạt động chuyên môn. Các địa phương sẽ tiến hành rà soát thực tế, đánh giá năng lực, nhu cầu dân cư để xây dựng phương án cụ thể, trình UBND tỉnh phê duyệt.

Ngành y tế cũng lên kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, điều chuyển nhân lực hợp lý, bảo đảm đội ngũ cán bộ y tế cơ sở ổn định và có điều kiện phát huy năng lực chuyên môn. Cùng với đó, tỉnh sẽ tiếp tục đầu tư nâng cấp trang thiết bị, hạ tầng y tế, đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu, tầm soát bệnh không lây nhiễm và phục vụ công tác dự phòng dịch bệnh tại cộng đồng.

Việc Thanh Hóa sắp xếp lại mạng lưới trạm y tế không chỉ nhằm tinh gọn tổ chức, mà còn là bước cải cách quan trọng để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cơ sở, đưa y tế đến gần hơn với người dân, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa.

Mô hình mới được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng cho hệ thống y tế của tỉnh hoạt động chuyên nghiệp, thống nhất, gắn kết với mạng lưới y tế quốc gia và thích ứng tốt với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Với định hướng “lấy người dân làm trung tâm phục vụ”, Thanh Hóa đang từng bước khẳng định quyết tâm xây dựng một hệ thống y tế cơ sở hiện đại, nhân văn và bền vững, góp phần bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cộng đồng trong thời kỳ đổi mới.