Phát biểu tại hội nghị, ông Cao Huy – Thứ Trưởng Bộ Nội vụ, cho biết: “Trong thời gian qua việc thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về tinh gọn bộ máy nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước Bộ lao động - Thương binh và xã hội trước đây, đã sát nhập vào Bộ Nội vụ thành Bộ Nội vụ. Điều này đặt ra cho Bộ Nội vụ trách nhiệm lớn trong việc thống nhất quản lý nhà nước về lao động việc làm, bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội cùng nhiều lĩnh vực khác".
Quy định mới về cấp phép cho lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
Theo nghị định số 219/2025/NĐ-CP Ngày 07/8/2025 của chính phủ về người lao động (NLĐ) nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Phạm vi điều chỉnh NLĐ nước ngoài làm việc tại Việt Nam, theo các điều khoản sau của Bộ luật Lao động Điều 157: Điều kiện, trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi giấy phép lao động, giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động đối với NLĐ nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Ngoài ra, khoản 1,2 Điều 154: NLĐ nước ngoài làm việc tại Việt Nam không thuộc diện cấp giấy phép lao động.
Bên cạnh đó, đối tương áp dụng như NLĐ nước ngoài làm việc tại Việt Nam là công dân nước ngoài vào làm việc tại các vị trí công việc quy định tại Điều 3 Nghị định này, theo các hình thức như người chịu trách nhiệm thành lập hiện diện thương mại, được điều chuyển từ cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp ở nước ngoài sang VN làm việc, tham gia thực hiện các gói thầu, dự án tại Việt Nam.
Theo đó, thân nhân thành viên cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam, thực hiện hợp đồng lao động (HĐLĐ) với cơ quan đại diện ngoại giao NN, tổ chức NN tại Việt Nam. Người sử dụng NLĐ nước ngoài bao gồm doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, nhà thầu, cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam; cá nhân được phép hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Người lao động nước ngoài phải có giấy tờ chứng minh (Điều 19) như các văn bằng, chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận chứng minh tốt nghiệp đại học trở lên hoặc tương đương trong lĩnh vực tài chính, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia, lĩnh vực ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội hoặc theo thoả thuận hợp tác của Chính phủ Việt Nam và văn bản xác nhận người sử dụng lao động (NSDLĐ) tại nước ngoài về số năm kinh nghiệm làm việc của chuyên gia đó .
Hơn nữa, văn bằng và chứng chỉ cùng giấy chứng nhận chứng minh đào tạo ít nhất 1 năm và văn bản xác nhận của NSDLĐ tại nước ngoài về số năm kinh nghiệm làm việc của lao động kỹ thuật đó. Văn bản xác nhận của NSDLĐ tại nước ngoài về số năm kinh nghiệm làm việc của lao động kỹ thuật đó.
Trong trường hợp NLĐ nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động (Điều 7): Nhằm thể chế hoá Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW, tạo điều kiện thu hút về chuyên gia lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia hoặc các lĩnh vực Việt Nam ưu tiên phát triển, dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung trường hợp được xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động đối với chuyên gia trong lĩnh vực : tài chính, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội… được các Bộ chuyên ngành xác nhận (Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo…), UBND cấp tỉnh xác nhận công nhận là chuyên gia (khoản 15 Điều 7).
Như vậy, quy định về giao dịch điện tử trong cấp, cấp lại, gia hạn giấy phép lao động (GPLĐ) và giấy xác nhận không thuộc diện cấp GPLĐ (khoản 1,2 Điều 6). Cụ thể, NSDLĐ nộp hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, gia hạn GPLĐ và giấy xác nhận không thuộc diện cấp GPLĐ đối với NLĐ nước ngoài trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công quốc gia. Thông qua, cổng Dịch vụ công quốc gia chuyển hồ sơ theo quy định của pháp luật về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại bộ phận một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia đến cơ quan có thẩm quyền cấp, cấp lại, gia hạn GPLĐ và giấy xác nhận không thuộc diện cấp GPLĐ đối với NLĐ nước ngoài.
Luật Việc làm năm 2024 mở rộng chính sách hỗ trợ và số hóa dữ liệu lao động
Bà Nguyễn Thị Quyên - Phó cục trưởng Cục việc làm, Bộ Nội vụ, nhấn mạnh: “Đối với đăng kí lao động thủ tục phải đơn giản, thuận tiện, kịp thời, chính xác, công khai, minh bạch trong trình tự, thủ tục đăng ký lao động. Trong đó, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, người lao động khi đăng ký lao động, ứng dụng khoa học công nghệ khi giao dịch điện tử trong đăng ký lao động”.
Đầu tiên, chính sách tín dụng cho vay về giải quyết việc làm từ đó mở rộng đối tượng vay vốn hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng: Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (khoản 2 Điều 9). Phân cấp, phân quyền cho địa phương, tổ chức, cá nhân uỷ thác vốn cho NHCSXH được quy định đối tượng ưu tiên vay vốn và đối tượng vay vốn với mức lãi suất thấp hơn (khoản 8, 9 Điều 9).
Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ việc làm cho người lao động là người cao tuổi nằm trong (điều 13) sẽ được vay vốn hỗ trợ tạo việc làm, duy trì, mở rộng việc làm, hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề, hỗ trợ tham gia đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Căn cứ theo điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ và khả năng cân đối ngân sách, Nhà nước có chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo lại, đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp cho người lao động nhằm thích ứng với già hóa dân số.
Hệ thống thông tin thị trường lao động (Điều 19) như tổng hợp các yếu tố hạ tầng công nghệ, phần mềm, dữ liệu được xây dựng, quản lý tập trung, thống nhất trên phạm vi cả nước để phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu, hoạch định chính sách, phân tích, dự báo thị trường và hỗ trợ các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia thị trường lao. Hơn nữa, được kết nối, cập nhật, đồng bộ, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu về NLĐ, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và cơ sở dữ liệu khác để cập nhật, chia sẻ, khai thác thông tin về thị trường lao động.
Sẽ tiếp nhận, cập nhật, điều chỉnh thông tin về người lao động vào cơ sở dữ liệu về người lao động và kết nối, đồng bộ với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và các cơ sở dữ liệu khác.
Đặc biệt, xây dựng cơ sở dữ liệu về người lao động đảm bảo “đúng, đủ, sạch, sống”, kết nối, cập nhật, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu quốc gia và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác. Tạo điều kiện thuận lợi cho NLĐ trong giao dịch, tiếp cận và thụ hưởng chính sách việc làm. Bảo hiểm thất nghiệp theo khoản 1 Điều 33: Người lao động đóng tối đa bằng 1 % tiền lương tháng và người sử dụng lao động đóng tối đa bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia BHTN. Nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng BHTN của những người lao động đang tham gia BHTN và do ngân sách TW bảo đảm.









Bình luận
Đăng nhập hoặc Tạo tài khoản để tham gia bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu