Hiểm họa sau bão
Sau cơn bão số 10, xã Thường Xuân (tỉnh Thanh Hóa) rơi vào tình trạng sạt lở nghiêm trọng. Hàng loạt tuyến đường liên thôn, liên xã bị đất đá vùi lấp, giao thông ách tắc nhiều ngày, việc đi lại, vận chuyển hàng hóa và cứu trợ gặp vô vàn khó khăn. Tại một số bản làng nằm ven sườn núi, từng khối đất đá khổng lồ đổ xuống, uy hiếp trực tiếp nhà cửa và hoa màu, khiến nhiều hộ dân phải di dời khẩn cấp trong tâm trạng bất an.
Thanh Hóa vốn là tỉnh có địa hình phức tạp bậc nhất miền Trung, trong đó miền núi chiếm tới 3/4 diện tích tự nhiên. Đặc điểm địa hình dốc, nền đất yếu, dễ ngấm nước đã khiến nơi đây trở thành “điểm nóng” về nguy cơ lũ quét, sạt lở đất mỗi khi mưa bão kéo dài. Chỉ cần một trận mưa lớn, hàng chục điểm sạt lở có thể xuất hiện, vùi lấp ruộng nương, cuốn trôi hoa màu, gây thiệt hại nặng nề cho sinh kế của bà con.
Thực tế, ngay sau bão số 10, gia đình ông Cẩm Bá Cao (bản Tiến Sơn 1) phải khẩn cấp sơ tán khi hàng trăm mét khối đất đá từ sườn núi tràn xuống, vùi lấp toàn bộ gian bếp và chuồng gia súc. Ông nghẹn ngào: “Chỉ trong một đêm, mọi thứ gần như mất trắng. Nhà thì nứt, gia súc chết, giờ chỉ mong có chỗ ở an toàn cho vợ con.” Tương tự, bà Lò Thị P. cho biết, nương ngô và lúa mới gieo cũng bị đất đá lấp kín, nguy cơ mất mùa là chắc chắn.
Điều đáng lo ngại hơn là phần lớn cư dân miền núi Thường Xuân là đồng bào dân tộc thiểu số, kinh tế còn nhiều hạn chế, chủ yếu dựa vào sản xuất nông – lâm nghiệp. Mỗi đợt thiên tai không chỉ cướp đi tài sản mà còn khoét sâu vào cái nghèo, đẩy cuộc sống vốn bấp bênh của họ vào cảnh khốn khó hơn. Sạt lở đất vì thế không chỉ là hiểm họa thiên nhiên, mà còn là nỗi ám ảnh treo lơ lửng trên từng mái nhà, từng mùa vụ của bà con nơi đây.
Khó khăn trong xử lý sạt lở
Người dân Thường Xuân đều mong muốn được san gạt, gia cố nền móng để bảo đảm an toàn cho nhà cửa và tính mạng, song thực tế lại vấp phải nhiều rào cản. Ngoài khó khăn về hạ tầng và chi phí, vướng mắc lớn nhất lại nằm ở khía cạnh pháp lý.
Theo tìm hiểu được biết, Luật Đất đai 2013, Luật Lâm nghiệp 2017 và Nghị định 91/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai thì việc san gạt, thay đổi địa hình trên đất nông nghiệp hoặc đất rừng sản xuất phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Nếu tự ý thực hiện, người dân có thể bị xử phạt. Đây là lý do khiến nhiều hộ dân, dù rất cần khắc phục sau bão, vẫn e ngại vi phạm và chần chừ trong việc triển khai.
Tuy nhiên, theo Luật Phòng chống thiên tai 2013 (sửa đổi 2020), trong tình huống khẩn cấp nhằm bảo vệ tài sản, tính mạng người dân, UBND các cấp được phép chỉ đạo áp dụng tạm thời những biện pháp cần thiết để ứng phó, sau đó hoàn thiện hồ sơ báo cáo cấp có thẩm quyền. Do đó, ngay sau bão số 10, UBND xã Thường Xuân đã cho phép một số hộ dân san gạt tạm thời để giảm thiểu rủi ro, đồng thời lập báo cáo gửi Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường xin ý kiến chỉ đạo.
Trao đổi với Phóng viên Tạp chí Sức khoẻ Cộng đồng, ông Đỗ Bá Đức – UV BTV Đảng ủy, Phó Chủ tịch UBND xã cho biết: “Chúng tôi buộc phải linh hoạt để đảm bảo an toàn trước mắt cho người dân. Tuy nhiên, xã luôn nhấn mạnh việc san gạt tạm chỉ nhằm ứng phó khẩn cấp, mọi giải pháp lâu dài phải có hướng dẫn cụ thể từ cấp trên để đảm bảo đúng quy định pháp luật.”
Ở góc độ pháp lý, luật sư Đặng Văn Cường, Trưởng Văn phòng luật sư Chính Pháp nhận định: “Người dân không nên tự ý san gạt khi chưa có hướng dẫn, bởi có thể dẫn đến rủi ro pháp lý và cả nguy cơ sạt lở tiếp. Cần sớm có cơ chế đặc thù cho vùng thiên tai, quy định rõ những trường hợp được phép xử lý khẩn cấp, thủ tục rút gọn, cũng như trách nhiệm của cơ quan quản lý. Chỉ khi có hành lang pháp lý minh bạch, việc phòng chống sạt lở mới vừa đảm bảo an toàn, vừa không gây lo lắng cho người dân.”
Đồng quan điểm với luật sư Cường, luật sư Mai Thanh Bình, Công ty luật TNHH Mai Thanh Bình, Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh cho rằng: “Trong trường hợp người dân tự san gạt đất để ngăn sạt lở hay cứu tài sản trong bối cảnh thiên tai, hành vi đó cần được xem xét theo hướng tình thế cấp thiết. Pháp luật Việt Nam có quy định miễn xử phạt khi hành động nhằm ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng, phù hợp với Điều 11 Luật Xử lý vi phạm hành chính.”
Cần cơ chế đặc thù và hướng dẫn rõ ràng
Theo các chuyên gia, ngoài việc tuân thủ nghiêm các quy định pháp luật hiện hành, Nhà nước cần sớm ban hành hướng dẫn pháp lý tạm thời và cơ chế đặc thù cho những vùng thường xuyên hứng chịu thiên tai. Nếu được áp dụng, cơ chế này sẽ cho phép rút gọn thủ tục nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu an toàn kỹ thuật, giúp người dân có thể chủ động khắc phục hậu quả mà không lo vi phạm pháp luật. Đây mới chỉ là kiến nghị chính sách, song lại mang ý nghĩa quan trọng trong việc ngăn chặn tình trạng làm chui, hạn chế những hệ lụy phát sinh.
Đối với các hộ dân đã sinh sống ổn định nhiều năm trên đất rừng sản xuất, các chuyên gia pháp lý cho rằng cần có giải pháp linh hoạt như công nhận thực tế cư trú hoặc bố trí tái định cư an toàn. Chỉ khi vừa bảo đảm an sinh cho người dân, vừa quản lý chặt chẽ đất đai, mới có thể tháo gỡ mâu thuẫn lâu nay giữa nhu cầu thực tiễn và khuôn khổ pháp lý hiện hành.
Nhiều ý kiến khuyến nghị, để xử lý toàn diện, cần một lộ trình từ ngắn hạn đến dài hạn. Trong giai đoạn khẩn cấp, chính quyền phải được phép linh hoạt cho san gạt, gia cố tạm thời dưới sự giám sát kỹ thuật. Tiếp đó, Nhà nước cần ban hành cơ chế đặc thù để phân định rõ thẩm quyền, thủ tục và trách nhiệm quản lý, đồng thời thiết lập quỹ hỗ trợ pháp lý – kỹ thuật cho người dân. Về lâu dài, cần lồng ghép công tác phòng chống sạt lở vào quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội miền núi, gắn tái định cư bền vững với cả giải pháp công trình và sinh học nhằm đảm bảo sự ổn định lâu dài.
Ở góc độ người dân, nhiều hộ kiến nghị Nhà nước cần tăng cường sự hiện diện của cán bộ kỹ thuật tại cơ sở, hướng dẫn cụ thể cách san gạt an toàn, trồng cây giữ đất và làm rãnh thoát nước; đồng thời, mong muốn có cơ chế hỗ trợ tài chính trực tiếp để họ chủ động thuê phương tiện cơ giới khi cần thiết. Bà Lò Thị P. (xã Thường Xuân) chia sẻ: “Người dân chúng tôi không ngại bỏ công sức, chỉ mong có quy định rõ ràng để yên tâm làm đúng, và có thêm hỗ trợ để bảo vệ được nhà cửa, ruộng nương.”
Cho ý kiến về vấn đề này, luật sư Đặng Văn Cường nhấn mạnh: “Một cơ chế đặc thù với lộ trình rõ ràng, có sự tham gia và giám sát của chính quyền, chuyên gia và cộng đồng dân cư, sẽ là nền tảng để công tác phòng chống thiên tai đi vào thực chất, bảo đảm an toàn cho người dân và tạo hành lang pháp lý bền vững.”
Trách nhiệm chung trong ứng phó và phòng ngừa
Rõ ràng, sạt lở đất không chỉ là vấn đề thiên nhiên khắc nghiệt mà còn là bài toán quản lý xã hội và phát triển bền vững. Để giải quyết tận gốc, cần có sự vào cuộc đồng bộ từ nhiều phía. Trung ương phải kịp thời ban hành cơ chế, chính sách phù hợp và phân bổ nguồn lực; chính quyền địa phương có trách nhiệm triển khai linh hoạt, gần dân và sát thực tế; còn cộng đồng dân cư vừa là đối tượng thụ hưởng, vừa là chủ thể trực tiếp tham gia giám sát, thực hiện các giải pháp phòng ngừa. Khi cả ba khâu này gắn kết, những biện pháp pháp lý, kỹ thuật và xã hội mới có thể phát huy hiệu quả, giúp người dân miền núi không chỉ vượt qua khó khăn trước mắt mà còn yên tâm xây dựng cuộc sống ổn định lâu dài.









Bình luận
Đăng nhập hoặc Tạo tài khoản để tham gia bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu