Kỷ Niệm 101 Năm Ngày Báo Chí Cách Mạng Việt Nam

Dấu ấn “con ngựa” trong kho tàng dược liệu y học cổ truyền của người Việt

Không chỉ là linh vật trong văn hoá phương Đông, con ngựa còn để lại dấu ấn sâu đậm trong y học cổ truyền qua nhiều vị thuốc và dược liệu Việt. Những tri thức được đúc kết từ hình dáng, đặc tính và công dụng của các vị thuốc ấy đã góp phần tạo nên nền y học dân tộc bền bỉ, gắn bó với sức khỏe con người qua hàng trăm năm.

Những vị thuốc quý từ chính con ngựa

Trong kho tàng dược liệu cổ truyền, ngựa hiện diện trước hết bằng chính các bộ phận của nó. Thịt ngựa (mã nhục) từ lâu được xem vừa là thực phẩm bổ dưỡng có vị ấm nóng, hơi cay, ăn vào sẽ làm khỏe gân, mạnh xương (đặc biệt làm cứng xương sống) và là thuốc chữa nhiệt khí, đau lưng, tê bại, rụng tóc, lở hói đầu....

Từ xương ngựa (mã cốt), đặc biệt là xương sọ và xương chân, người xưa nấu thành cao - cao ngựa bạch để phục hồi sức khỏe với người mới ốm dậy, phụ nữ sau sinh, đau nhức gân xương, kinh nguyệt không đều, trẻ em còi xương xanh xao biếng ăn. Không dùng rượu cao ngựa cho trẻ em; khi dùng kiêng các chất tanh (tôm, cua, cá…), các chất cay (tỏi, ớt, hạt tiêu,…), nước chè đặc, đậu xanh, rau muống…

Sữa ngựa (mã nhũ), với hàm lượng chất béo thấp và vị thanh mát, được dùng để tiêu nhiệt, giải độc, lợi tiểu và hỗ trợ các bệnh đường ruột. Ngày nay, y học hiện đại còn khai thác tuyến giáp, tuyến thượng thận và tuyến yên của ngựa để điều chế các chế phẩm sinh học phục vụ điều trị rối loạn nội tiết và suy nhược cơ thể.

Nhiều bộ phận của con ngựa được biết đến như một vị thuốc trong y học cổ truyền
Nhiều bộ phận của con ngựa được biết đến như một vị thuốc trong y học cổ truyền

Bọ ngựa

Bọ ngựa còn gọi  là con bù cào hoặc ngựa trời hay đường lang. Bộ phận dùng làm thuốc là toàn bộ con bọ ngựa (tên thuốc là đường lang) và tổ bọ ngựa trên cây dâu tằm (còn gọi là tang phiêu tiêu). Người ta thường bắt bọ ngựa còn sống, bỏ đầu, cánh, chân và ruột rồi đem rang chín và tán thành bột, đựng trong lọ kín dùng dần. Đông y cho rằng, bọ ngựa có vị ngọt mặn, tính ấm, không độc, có công dụng bổ thận cố tinh, tư âm sáp niệu, giải độc trấn kinh; thường được dùng để chữa các chứng di tinh, di niệu..., đi tiểu nhiều lần, hầu họng sưng đau, trĩ hạ, viêm loét, kinh giảm...

Tang phiêu tiêu là tổ cái tổ bọc các quả trứng của con bọ ngựa sống trên cây dâu tằm. Tang phiêu tiêu có vị ngọt, mặn, tính bình, quy vào 2 kinh can và thận, có công dụng bổ thận tráng dương, cố tinh, sáp niệu, an thần, định chí...

Tang phiêu tiêu được thu hoạch dùng làm thuốc và lấy tổ vào tháng 10 đến tháng 1 hằng năm, lấy về phơi hoặc sấy khô, đựng trong lọ kín dùng.

Bọ ngựa và tổ bọ ngựa cũng là những vị thuốc quý trong dân gian
Bọ ngựa và tổ bọ ngựa cũng là những vị thuốc quý trong dân gian

Cá ngựa

Cá ngựa có tên khoa học: Hippocampus spp., họ cá chìa vôi (Syngnathidae). Tên khác là hải mã, thủy mã, hải long, mã đầu ngư... Để làm thuốc, người ta bỏ ruột, uốn đuôi cho cong rồi phơi khô, chọn những con to nhỏ bằng nhau rồi buộc thành từng cặp 2 con (một đôi đực cái).

Theo Đông y, cá ngựa có vị ngọt mặn, tính ấm, vào hai kinh Can và Thận; có tác dụng bổ thận tráng dương, điều khí hoạt huyết, tán kết tiêu thũng; chủ trị dương nuy (liệt dương) do thận dương hư, tảo tiết (xuất tinh sớm), di tinh, hen suyễn do thận hư, thần kinh suy nhược, phụ nữ khó đẻ, đinh nhọt sưng đau, đòn ngã chấn thương.

Theo các nghiên cứu về dược lý hiện đại, cá ngựa có tác dụng chống lão suy (làm chậm quá trình lão hóa của cơ thể), chống huyết khối, do đó có tác dụng phòng ngừa nghẽn tắc huyết quản.

Cá ngựa hay còn được gọi là hải mã cũng được sử dụng như một dược liệu trong y học cổ truyền
Cá ngựa hay còn được gọi là hải mã cũng được sử dụng như một dược liệu trong y học cổ truyền

Cá hải long

Cá hải long (tên khoa học là Doryichthys boaja) hay còn được gọi với những tên gọi khác dựa trên đặc điểm về ngoại hình của chúng như cá ngựa xương, cá ngựa nước ngọt, cá chìa vôi và cả rồng biển. Trong Đông y, cá hải long được coi là một vị thuốc quý bởi chúng chưa rất nhiều chất dinh dưỡng như chất đạm, canxi, magie, phốt pho,...  Khi còn tươi, thịt cá hải long rất thơm ngon và dồi dào dinh dưỡng. Cụ thể, chúng có lượng đạm, vitamin (niacin, B6), omega-3 và chất khoáng giúp tái tạo hồng cầu và kích hoạt hệ miễn nhiễm. Vì vậy Hải Long cũng rất thích hợp cho người bị thiếu máu, suy nhược cơ thể, xương khớp thoái hóa.

Những vị thuốc từ cá hải long được chế biến bằng cách lấy toàn thân của chúng bỏ ruột rồi phơi khô. Ngoài ra, cá hải long còn có tác dụng chữa trị một số bệnh ngoài da như mụn đinh râu, mụn nhọt bị sưng đau,...

Dù cá hải long có phần lành tính, nhưng nó không phải thực phẩm phù hợp với tất cả mọi người. Do đó, khi có nhu cầu sử dụng cá hải long như một vị thuốc bổ trợ trong việc tăng cường hay cải thiện sức khỏe, chúng ta cần cân nhắc sử dụng một cách hợp lý. Cũng theo như Đông y, phụ nữ mang thai là đối tượng tuyệt đối không nên sử dụng cá hải long như một vị thuốc.

Cá hải long là một trong những dược liệu quan trọng trong nhiều bài thuốc y học cổ truyền
Cá hải long là một trong những dược liệu quan trọng trong nhiều bài thuốc y học cổ truyền

Cỏ roi ngựa

Trong số các dược liệu mang tên ngựa, cỏ roi ngựa - hay mã tiên thảo được sử dụng khá phổ biến trong y học cổ truyền. Cây thân thảo nhỏ bé, thân thẳng, nhiều đốt như roi ngựa, mọc hoang khắp các vùng đồng bằng và trung du. Theo y học cổ truyền, cỏ roi ngựa có vị đắng, hơi hàn, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, phá huyết và thông kinh. Từ lâu, dân gian đã dùng loài cây này để chữa viêm họng, cảm cúm, mụn nhọt, sưng đau tuyến vú, bế kinh hay các chứng lở ngứa.

Các nghiên cứu hiện đại cũng cho thấy cỏ roi ngựa chứa nhiều flavonoid, saponin, alkaloid và silic - những hoạt chất có khả năng kháng viêm, kháng khuẩn, hạ sốt và tăng cường miễn dịch, giúp lý giải cơ sở khoa học cho những kinh nghiệm dân gian được truyền lại.

Mã tiên thảo (cỏ roi ngựa) có vị đắng, tính hàn, tác dụng phá huyết, sát trùng và thông kinh
Mã tiên thảo (cỏ roi ngựa) có vị đắng, tính hàn, tác dụng phá huyết, sát trùng và thông kinh

Cây mã đề

Mã đề còn gọi là Xa tiền thảo (Plantago major L.), họ Mã đề (Plantaginaceae). Hai chữ “mã đề” là ám chỉ “móng chân của con ngựa”.

Theo Đông y, xa tiền thảo vị ngọt, tính hàn; vào can, thận và bàng quang. Có tác dụng lợi niệu thẩm thấp; mát gan sáng mắt. Dùng trị chứng vàng da phù nề, bệnh sỏi đường tiết niệu (đái máu, đái đục, đái dắt buốt), tiêu chảy, viêm kết mạc mắt (đau mắt đỏ), ho do viêm họng, viêm khí phế quản. Cây mã đề có tác dụng giống hạt mã đề; ngoài ra còn có tác dụng dịu mát (thanh nhiệt), giải độc, trị tiểu tiện ra máu. Liều dùng: xa tiền thảo 20-63g. Nếu dùng tươi thì tăng liều.

Mã đề cũng được dùng cho các trường hợp tiểu dắt buốt, khó đi (viêm đường tiết niệu...), chỉ cần một nắm mã đề tươi rửa sạch ép lấy nước (khoảng nửa cốc) thêm chút đường trắng khuấy đều cho uống, rất dễ tìm kiếm và sử dụng.

Cây mã đề là một dược liệu khá phổ biến trong dân gian
Cây mã đề là một dược liệu khá phổ biến trong dân gian

Cây mã tiền

Tiếp đến là cây mã tiền. Hạt mã tiền có hình hạt dẹt, hình nút, đường kính 1-3 cm và dày 3-6 mm, có mép hơi nhô lên, thường lõm ở một mặt và hơi nhô ra ở mặt kia. Bề mặt có màu nâu xám hoặc xám xanh, phủ dày đặc lông tơ màu xám bạc có ánh mượt, tỏa ra từ trung tâm. Mép hạt có gờ nổi và một màng nhỏ, nổi lên. Một rốn hơi nhô ra, giống như chấm nằm ở giữa mặt dưới, với một đường gồ lên mờ nhạt giữa màng và màng. Chúng cứng và khó vỡ. Sau khi ngâm, cắt dọc theo mép sẽ thấy nội nhũ màu vàng nhạt, sừng và dày với một khoảng trống ở giữa và phôi hình trái tim gần màng. Có hai lá mầm mỏng, dài 5-6 mm, với năm gân hình chân vịt. Rễ mầm dài khoảng 4 mm.

Trong y học cổ truyền hạt mã tiền, vị đắng, tính ấm và cực độc, đi vào kinh can tỳ. Muốn sử dụng hạt Mã tiền phải được sơ chế và chế biến theo quy trình nghiêm ngặt. Hạt mã tiền khi chưa qua sơ chế, thì mang tính rất độc, nó chủ yếu tấn công vào các chi, gây ra tình trạng đau lưng.

Hạt mã tiền đã qua chế biến kỹ thì nó có tác dụng khai thông kinh lạc, giảm đau, tiêu ứ và giảm sưng. Nó có thể điều trị bệnh thấp khớp dai dẳng, tê liệt, đau họng, chấn thương do té ngã, sưng đau do nhọt, di chứng sau bại liệt và viêm khớp dạng thấp. Tuy nhiên, nếu đã được sơ chế nghiêm ngặt thì nó lại mã tiền lại có tác dụng điều trị và hỗ trợ cho các chi, giảm co thắt, giảm đau và giảm tê liệt.

Hình ảnh cây mã tiền
Hình ảnh cây mã tiền

Ké đầu ngựa

Ké đầu ngựa còn có tên gọi khác là thương nhĩ. Tên khoa học Xanthium strumarium L. Thuộc họ Cúc Asteraceae.

Cây ké đầu ngựa mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta (đất hoang, bờ ruộng, bờ đường). Người ta hái cả cây trừ bỏ rễ phơi hay sấy khô hoặc chỉ hái quả chín rồi phơi hay sấy khô làm thuốc. Dân gian thường dùng ké uống chữa mẩn ngứa, mụn nhọt và bướu cổ.

Theo tài liệu cổ ké có vị ngọt, tính ôn, hơi có độc. Vào phế kinh, có tác dụng làm ra mồ hôi, tán phong, dùng trong các chứng phong hàn, đau nhức, phong thấp, tê dại, mờ mắt, chân tay co giật, uống lâu ích khí.

Tuy nhiên, loại thảo dược này không phù hợp cho những người huyết hư gây đau đầu choáng váng, đau mỏi toàn thân. Với những người chính khí yếu, nên cân nhắc sử dụng, chỉ dùng theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học Hàn Quốc cho thấy các loài thực vật trong chi Ké đầu ngựa chứa thành phần chống oxy hóa và chống viêm, có thể giúp bảo vệ da, chống lão hoá hiệu quả.

Cây ké đầu ngựa mọc hoang trong tự nhiên
Cây ké đầu ngựa mọc hoang trong tự nhiên

Mã sĩ hiện (rau sam)

Mã sĩ hiện tên khoa học là Portulaca oleracea L. Đó là cây nhỏ mọc hoang xen lẫn với cỏ dại, rất phổ biến trong tự nhiên và quen thuộc với người Việt. Rau sam không có chất độc, có thể dùng nấu canh hoặc ăn sống. Các chất dinh dưỡng có trong rau sam nói chung cũng tương đương như nhiều loại rau ăn thông thường, nhưng đặc biệt hàm lượng vitamin E rất cao (10-12mg/100g rau sam) gấp 7 lần rau xà lách.

Trong danh mục những cây thuốc của Tổ chức Y tế Thế giới có ghi cây rau sam dùng chữa được các bệnh thấp khớp, phụ khoa, giảm đau, lợi tiểu, trợ tim, trị sốt cao, giun kim, kích thích tiết mật...

Theo các tài liệu cổ: Rau sam vị chua, tính hàn, không độc, vào các kinh tâm, can và tỳ, có tác dụng giải độc, tiêu viêm, lợi tiểu, chữa lỵ ra máu, viêm khớp xương cấp tính, hậu môn sưng đau, trĩ, sưng tinh hoàn cấp tính, bạch đới (khí hư), các chứng lở.

Cây rau sam (mã sĩ hiện)
Cây rau sam (mã sĩ hiện)

Mã thầy

Mã thầy (tên gọi khác là củ năng, địa lê, thông thiện thảo...) là một loại củ không chỉ được sử dụng để chế biến các món ăn dân dã như chè, món xào, mà còn là vị thuốc được ứng dụng phổ biến trong y học cổ truyền nhờ đặc tính thanh mát và hỗ trợ tiêu hóa.

Mã thầy thuộc họ cói, tên khoa học là Eleocharis dulcis Burm.f, thường mọc ở các vùng đất ngập nước tại Châu Á, Châu Phi và một số đảo thuộc Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương. Mặc dù không đậm đà về hương vị nhưng củ năng lại giàu dinh dưỡng nhờ môi trường sinh trưởng dưới nước.

Mã thầy chứa rất ít calo, đồng thời cung cấp kali, chất xơ và các chất chống oxy hóa có lợi cho sức khỏe tim mạch, tiêu hóa và nhiều chức năng khác của cơ thể.

Từ góc nhìn y học cổ truyền châu Á, củ mã thầy mang tính mát, giúp thanh nhiệt và hỗ trợ cơ thể trong điều kiện khí hậu nóng ẩm. Các nghiên cứu hiện đại cũng cho thấy củ năng có đặc tính chống viêm, góp phần kiểm soát cân nặng và cải thiện sức khỏe tổng thể. Nhờ hàm lượng nước cao, giúp tạo cảm giác no lâu, cung cấp nước và phù hợp với người sống trong môi trường nóng hoặc hoạt động nhiều ngoài trời.

Củ mã thầy
Củ mã thầy

Cây mã liên an

Còn mang các tên khác là mã lìn ón, hà thủ ô trắng, dây sữa bò. Cây có củ, thân dây, lá to mỏng, mọc leo hoặc lan trên đất phổ biến ở miền trung du và ven bờ ruộng một số vùng đồng bằng. Về tên gọi đặc biệt của loại cây này, tương truyền, ngày xưa một ông tướng đang cưỡi ngựa đi đường thì bị trúng cảm, ngã bất tỉnh, nhưng may được thầy thuốc gần đó dùng một loại cây cứu chữa khỏi, ông tướng đã biếu thầy thuốc cả ngựa lẫn yên để tạ ơn, từ đấy loài cây này mang tên mã liên an (nghĩa là “ngựa liền yên”).

Thuốc được dùng tươi hoặc sấy khô, toàn bộ lá, dây, củ của nó đều có thể làm thuốc, mang vị đắng, mát, tính bình, trị chứng suy nhược thần kinh, thiếu máu, bệnh phong thấp, tê bại, đau xương, mỏi gối, bạch đới, khí hư, kinh nguyệt không đều và chữa rắn cắn.

Cây mã liên an
Cây mã liên an

Nhìn lại những vị thuốc mang tên “ngựa” mới thấy rõ trí tuệ và sự tinh tế của y học cổ truyền phương Đông, từ hình dáng, đặc tính sinh học đến công dụng chữa bệnh đều được quan sát, đúc kết và gửi gắm trong từng tên gọi. Nhân năm Ngọ 2026, việc nhắc lại những vị thuốc ấy không chỉ mang ý nghĩa thời điểm, mà còn là dịp để trân trọng, gìn giữ và phát huy giá trị của kho tàng dược liệu truyền thống – nơi hình ảnh con ngựa vẫn bền bỉ song hành cùng sức khỏe con người qua bao thế hệ.