Kỷ Niệm 50 năm ngày thành phố Sài Gòn - Gia Định vinh dự mang tên Chủ Tịch Hồ Chí Minh

Điều trị suy tim trong bệnh tim cơ giãn ở người bệnh trẻ tuổi

Một nam người bệnh 34 tuổi được chẩn đoán bệnh cơ tim giãn không do thiếu máu cục bộ, suy tim phân suất tống máu giảm (LVEF 36%). Mặc dù đã được điều trị nội khoa tối ưu theo các khuyến cáo hiện hành với đầy đủ bốn nhóm thuốc nền tảng trong điều trị suy tim phân suất tống máu giảm (HFrEF), người bệnh vẫn còn mệt và khó thở khi gắng sức, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.

Sau khi được Hội đồng chuyên môn đánh giá toàn diện và xác định phù hợp về chỉ định kỹ thuật, người bệnh được điều trị bằng liệu pháp tế bào gốc tự thân qua động mạch vành kết hợp tiếp tục tối ưu hóa điều trị nội khoa. Đây là kỹ thuật thuộc Danh mục kỹ thuật chuyên ngành Tuần hoàn, ban hành kèm Quyết định số 3675/QĐ-BYT ngày 28/11/2025 của Bộ Y tế, đánh dấu thêm một bước tiến trong việc triển khai các kỹ thuật chuyên sâu tại Viện Tim mạch, Bệnh viện 19-8.

Bệnh cảnh lâm sàng Người bệnh nam, 34 tuổi, nhập viện vì mệt và khó thở khi gắng sức. Khoảng 3 tháng trước đã được chẩn đoán bệnh cơ tim giãn và điều trị ngoại trú nhưng triệu chứng chưa cải thiện hoàn toàn. Tiền sử tăng huyết áp, không có tiền sử ngất, gia đình chưa ghi nhận người mắc bệnh cơ tim.

GS.TS. Phạm Mạnh Hùng - Viện trưởng Viện Tim mạch, Bệnh viện 19-8 - cùng ekip trực tiếp thực hiện tiêm tế bào gốc tự thân điều trị bệnh cơ tim giãn cho người bệnh (Ảnh: Bệnh viện 19-8)
GS.TS. Phạm Mạnh Hùng - Viện trưởng Viện Tim mạch, Bệnh viện 19-8 - cùng ekip trực tiếp thực hiện tiêm tế bào gốc tự thân điều trị bệnh cơ tim giãn cho người bệnh (Ảnh: Bệnh viện 19-8)

Khám khi nhập viện: Tỉnh táo, huyết động ổn định. Huyết áp: 110/60 mmHg. Không phù ngoại vi. Phổi thông khí tốt. Các xét nghiệm huyết học, sinh hóa, chức năng gan và thận trong giới hạn cho phép.

Chẩn đoán xác định Các thăm dò chuyên sâu cho thấy người bệnh mắc bệnh cơ tim giãn không do thiếu máu cục bộ:

- Siêu âm tim: Thất trái giãn (Dd 67 mm), giảm vận động lan tỏa các thành thất trái.

- Cộng hưởng từ tim (MRI): Chức năng tâm thu thất trái giảm (LVEF 36%), thất phải giảm nhẹ (RVEF 41%), thất trái giãn mức độ trung bình; không ghi nhận thiếu máu cơ tim hay sẹo cơ tim ngấm thuốc muộn.

- Chụp động mạch vành: Xơ vữa nhẹ, không có tổn thương hẹp có ý nghĩa gây thiếu máu cơ tim.

- Xét nghiệm di truyền: Chưa phát hiện biến thể gây bệnh trong nhóm gen liên quan đến bệnh cơ tim.

* Chẩn đoán: Bệnh cơ tim giãn không do thiếu máu cục bộ- Suy tim phân suất tống máu giảm (HFrEF), LVEF 36% - Tăng huyết áp.

Điều trị nội khoa nền tảng trước khi xem xét can thiệp, người bệnh đã được điều trị tối ưu theo khuyến cáo hiện hành với đầy đủ bốn nhóm thuốc nền tảng của suy tim phân suất tống máu giảm.

Mặc dù đã được điều trị nội khoa tối ưu, người bệnh vẫn còn triệu chứng khi gắng sức. Sau khi được hội chẩn đa chuyên khoa và đánh giá đầy đủ, người bệnh được chỉ định thực hiện liệu pháp tế bào gốc tự thân như một phương pháp điều trị bổ trợ, không thay thế điều trị nội khoa.

Vai trò của liệu pháp tế bào gốc trong bệnh cơ tim giãn Bệnh cơ tim giãn là tình trạng cơ tim giãn và giảm chức năng co bóp, dẫn đến suy tim tiến triển. Điều trị nội khoa hiện đại có vai trò làm chậm tiến triển bệnh, giảm triệu chứng và cải thiện tiên lượng, tuy nhiên chưa thể phục hồi phần cơ tim đã bị tổn thương.

* Liệu pháp tế bào gốc tự thân từ tủy xương được kỳ vọng góp phần cải thiện môi trường sinh học của cơ tim thông qua nhiều cơ chế như:

- Tiết các yếu tố tăng trưởng và các chất điều hòa sinh học giúp bảo vệ tế bào cơ tim còn sống.

- Thúc đẩy hình thành vi mạch mới, cải thiện tưới máu vi tuần hoàn.

- Điều hòa đáp ứng miễn dịch, hạn chế quá trình xơ hóa và tái cấu trúc bất lợi của cơ tim.

- Hỗ trợ quá trình sửa chữa và phục hồi mô cơ tim thông qua các cơ chế sinh học; khả năng tái tạo trực tiếp tế bào cơ tim vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu.

Mục tiêu của liệu pháp là hỗ trợ cải thiện chức năng thất trái, giảm triệu chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Đây là phương pháp điều trị bổ trợ, được phối hợp cùng điều trị nội khoa tối ưu theo các khuyến cáo hiện hành. Đối với người bệnh còn trẻ tuổi, việc bảo tồn tối đa chức năng cơ tim có ý nghĩa đặc biệt, góp phần trì hoãn tiến triển của bệnh và kéo dài thời gian trước khi phải cân nhắc các biện pháp điều trị chuyên sâu như thiết bị hỗ trợ thất hoặc ghép tim.

* Quy trình can thiệp

Ca can thiệp được thực hiện bởi GS.TS. Phạm Mạnh Hùng – Viện trưởng Viện Tim mạch, Bệnh viện 19-8 cùng ekip can thiệp tim mạch, với sự phối hợp chặt chẽ của Trung tâm Huyết học – Truyền máu và Khoa Gây mê Hồi sức.

Chuẩn bị tế bào gốc tự thân Dưới hỗ trợ gây mê, tủy xương được lấy và xử lý theo quy trình vô khuẩn. Khối tế bào gốc tự thân được ly tâm cô đặc, đánh giá chất lượng và tỷ lệ tế bào sống trước khi chuyển tới phòng can thiệp. Tiếp cận xâm lấn tối thiểu

Kíp can thiệp lựa chọn đường vào động mạch quay, giúp giảm nguy cơ biến chứng chảy máu, tạo thuận lợi cho người bệnh vận động sớm và rút ngắn thời gian nằm viện.

Đưa tế bào gốc tới vùng cơ tim đích Sau khi chụp động mạch vành và đặt guiding can thiệp: Đưa dây dẫn vào nhánh liên thất trước (LAD).

- Đặt bóng OTW kích thước 3.0 tại đoạn gần LAD.

- Bơm bóng áp lực thấp (6 atm) tạo hiện tượng tạm ngừng dòng chảy (stop-flow).

- Kiểm tra bằng thuốc cản quang, xác nhận không còn dòng chảy xuống đoạn xa.

- Tiêm 10 ml hỗn hợp tế bào gốc tự thân qua lòng bóng OTW theo đúng quy trình kỹ thuật. Kỹ thuật stop-flow giúp kéo dài thời gian lưu của tế bào trong lòng mạch, tăng khả năng phân bố tế bào tới vùng cơ tim cần điều trị.

Kết quả sau can thiệp Sau tiêm tế bào gốc:

* Không ghi nhận bóc tách thành động mạch vành.

* Dòng chảy động mạch vành được bảo tồn tốt (TIMI III).

* Người bệnh ổn định về huyết động.

Diễn biến thuận lợi và được ra viện sau thời gian theo dõi.

Người bệnh tiếp tục được quản lý ngoại trú, tái khám định kỳ bằng điện tâm đồ, siêu âm tim, cộng hưởng từ tim và các xét nghiệm cần thiết nhằm đánh giá hiệu quả điều trị lâu dài. 

Liệu pháp tế bào gốc tự thân là một hướng điều trị bổ trợ đầy triển vọng trong bệnh cơ tim giãn. Tuy nhiên, người bệnh cần được lựa chọn kỹ lưỡng theo chỉ định chuyên môn và tiếp tục điều trị nội khoa tối ưu, theo dõi lâu dài để đánh giá hiệu quả cũng như tính an toàn của phương pháp.