Kỷ Niệm 50 năm ngày thành phố Sài Gòn - Gia Định vinh dự mang tên Chủ Tịch Hồ Chí Minh

Nhiều băn khoăn về nguồn lực và cơ chế đặc thù khi hợp nhất 3 chương trình Mục tiêu quốc gia

Tại phiên thảo luận ở Tổ 4 gồm các Đoàn ĐBQH tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Khánh Hoà, diễn ra chiều 3/12, các đại biểu ghi nhận sự đồng thuận cao về sự cần thiết phải hợp nhất 3 chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bao dân tộc thiểu số và miền núi đến năm 2035. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều băn khoăn về nguồn lực và cơ chế đặc thù.

Cụ thể, đại biểu Nguyễn Quốc Luận ((Đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai) bày tỏ sự đồng tình với chủ trương và sự cần thiết phải ban hành chương trình này. Việc tích hợp ba chương trình mục tiêu quốc gia vào thành một chương trình được đánh giá là sẽ tránh được sự chồng chéo về nguồn lực và cả cơ chế thực hiện, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các địa phương trong triển khai.

Đại biểu Nguyễn Quốc Luận (Đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai) phát biểu tại cuộc họp (Ảnh: CTTĐT Quốc hội)
Đại biểu Nguyễn Quốc Luận (Đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai) phát biểu tại cuộc họp (Ảnh: CTTĐT Quốc hội)

Đại biểu khẳng định sau một giai đoạn triển khai đầy khó khăn, lúng túng ban đầu, việc triển khai thực hiện chương trình đến giai đoạn hiện nay đã cơ bản thuận lợi hơn. Chương trình được đánh giá là hiệu quả, hầu hết các mục tiêu đều đạt được. Đặc biệt, đối với vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, chương trình đã cung cấp "nguồn lực rất quý giá để ổn định cuộc sống, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập", góp phần giảm nghèo và làm giàu cho đồng bào DTTS&MN, đồng thời làm thay đổi bộ mặt nông thôn, miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn.
Các đại biểu đồng tình với quan điểm này, cho rằng việc hợp nhất là một hướng đi đúng đắn, giúp khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực, giảm chồng chéo chính sách, giảm nhiều đầu mối quản lý và văn bản hướng dẫn. Việc hợp nhất sẽ giúp tập trung vào các mục tiêu phát triển bền vững và phát huy tối đa hóa nguồn lực, chương trình được bà con nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các tỉnh miền núi khó khăn, rất trông chờ và mong muốn chương trình sớm được triển khai tiếp nối.

Bên cạnh chủ trương, vấn đề phân bổ nguồn vốn và tỷ lệ đối ứng của địa phương là nội dung được nhiều đại biểu quan tâm. Đại biểu Chamaléa Thị Thủy (Đoàn ĐBQH tỉnh Khánh Hoà) nhận thấy có bất cập trong việc phân bổ nguồn lực. Theo nghiên cứu, tổng nguồn lực dự kiến là 1.500 tỷ đồng nhưng tỷ lệ phân bổ cho chương trình phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chỉ chiếm 13,3%. Đại biểu nhấn mạnh vùng này là khu vực rất khó khăn, cần đầu tư lớn để thu hẹp khoảng cách phát triển. Khu vực này chiếm khoảng 75% diện tích cả nước, nhưng chỉ đóng góp chưa tới 20% GDP và tỷ lệ hộ nghèo cao gấp 3-4 lần mức trung bình cả nước, với nhiều địa phương lên tới 50%.

Do đó, đại biểu đề nghị Chính phủ nghiên cứu ưu tiên điều chỉnh phân bổ nguồn lực theo hướng tập trung ít nhất 70% tổng nguồn lực cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Việc này nhằm giải quyết triệt để các vấn đề cốt lõi như hạ tầng, giáo dục, y tế và sinh kế bền vững.

Đại biểu Nguyễn Quốc Luận và đại biểu Đàng Thị Mỹ Hương bày tỏ quan ngại về tỷ lệ đóng góp của ngân sách địa phương. Đại biểu Nguyễn Quốc Luận cho rằng, tờ trình của Chính phủ dự kiến 1,2 triệu tỷ đồng, nhưng dự thảo Nghị quyết lại ghi 500 nghìn tỷ đồng, trong đó Trung ương 100 nghìn tỷ và địa phương 400 nghìn tỷ. Đại biểu cho rằng việc quy định như vậy là "hết sức khó cho các địa phương, đặc biệt là các địa phương miền núi", vì hầu hết các địa phương này phụ thuộc vào sự hỗ trợ bổ sung cân đối ngân sách từ Trung ương hàng năm. Đại biểu đề nghị tính toán lại cơ chế đóng góp của ngân sách các địa phương và nên quy định đóng góp theo hợp phần. Cụ thể: Hợp phần 1 (Nông thôn mới và Giảm nghèo) ngân sách Trung ương chỉ nên là vốn mồi, ngân sách địa phương đóng góp nhiều hơn; Hợp phần 2 (Phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi) ngân sách Trung ương phải là chính vì đây là địa bàn miền núi, các tỉnh khó khăn và đặc biệt khó khăn.

Đại biểu Đàng Thị Mỹ Hương bày tỏ tán thành với ý kiến thẩm tra của Hội đồng Dân tộc, khẳng định tỷ lệ huy động vốn của địa phương dự kiến trên 33% là quá lớn. Thực tế, nhiều địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chỉ có khả năng đối ứng tối đa là 10%. Đại biểu Hương đề nghị cơ quan soạn thảo cần nghiên cứu bổ sung nguyên tắc phân bổ vốn đối ứng dựa vào khả năng cân đối của từng địa phương. Đồng thời, cần quy định mạnh trong dự thảo Nghị quyết về tỷ lệ vốn đối ứng thấp hơn đối với các tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu số và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Trong khi đó, đại biểu Hoàng Quốc Khánh cũng ủng hộ ý kiến ưu tiên kinh phí cho các tỉnh miền núi, cảnh báo rằng việc yêu cầu đối ứng lớn sẽ làm chậm tiến độ triển khai dự án và đề nghị quy định rõ hơn về nguyên tắc ưu tiên.

Đại biểu Hoàng Quốc Khánh (Đoàn ĐBQH tỉnh Lai Châu) phát biểu tại phiên họp (Ảnh: CTTĐT Quốc hội)
Đại biểu Hoàng Quốc Khánh (Đoàn ĐBQH tỉnh Lai Châu) phát biểu tại phiên họp (Ảnh: CTTĐT Quốc hội)

Các đại biểu đã đưa ra nhiều kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế thực hiện chương trình, bao gồm việc ban hành cơ chế đặc thù, thống nhất đơn vị chủ trì và rà soát các mục tiêu để tránh trùng lặp.

Đại biểu Nguyễn Quốc Luận đề nghị bổ sung các quy định về cơ chế chính sách đặc thù trong dự thảo Nghị quyết, cho rằng thực tế cần phải có những cơ chế chính sách đặc thù khác với luật và phải thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội. Nếu giao cho Chính phủ quy định thì có thể sẽ không phù hợp với các quy định hiện hành của pháp luật.

Chia sẻ kinh nghiệm là Giám đốc Sở trực tiếp thực hiện chương trình, đại biểu Nguyễn Quốc Luận khẳng định việc áp dụng các quy định hiện hành của pháp luật sẽ khiến việc thực hiện "hết sức vướng" và "rất khó thực hiện". Đại biểu đề nghị Quốc hội nên có cơ chế chính sách đặc thù riêng để tạo thuận lợi cho các địa phương và phát huy tối đa hiệu quả đầu tư của Nhà nước. Đại biểu cũng nhắc lại trong Nghị quyết 162/2024 về văn hóa, Quốc hội đã quy định một số cơ chế đặc thù và cần có sự đồng nhất giữa các Nghị quyết.

Về giao nhiệm vụ thực hiện chương trình, các đại biểu thống nhất quan điểm cần giao một cơ quan làm đầu mối chủ trì thực hiện chương trình ở Trung ương và một Sở làm cơ quan đầu mối ở địa phương để tập trung thống nhất trong quá trình thực hiện. Tuy nhiên, về đơn vị cụ thể, một số đại biểu đề xuất phân tách cơ quan chủ trì theo hợp phần, đơn cử như: Hợp phần 1 (Nông thôn mới và Giảm nghèo) giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan; Hợp phần 2 (Phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào DTTS&MN) giao Bộ Dân tộc và Tôn giáo chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan. Đại biểu cho rằng, Hợp phần 2 chủ yếu triển khai trên địa bàn đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số. Việc giao cho cơ quan quản lý nhà nước về dân tộc, tôn giáo chủ trì sẽ "sát hơn, hiệu quả hơn". Đặc biệt, Bộ Dân tộc và Tôn giáo cũng đang là cơ quan chủ trì thực hiện chương trình này, tránh việc giao cho cơ quan mới phải làm lại từ đầu. Các đại biểu cũng đề nghị ghi rõ đơn vị chủ trì trong Nghị quyết để đảm bảo trách nhiệm trước Quốc hội.

Một số đại biểu đề nghị rà soát mục tiêu để tránh chồng chéo với các chương trình MTQG khác (như giáo dục, y tế, văn hóa). Đại biểu Hoàng Quốc Khánh chỉ ra mục tiêu 6 có nội dung về đảm bảo hạ tầng thiết yếu, cơ sở vật chất giáo dục và 100% người dân tộc thiểu số, người nghèo có bảo hiểm y tế và được tiếp cận dịch vụ y tế. Đây là những chỉ tiêu đã có trong các nghị quyết về giáo dục và y tế. Đại biểu đề nghị những nội dung đã có kinh phí đủ để tổ chức thực hiện trong các chương trình khác thì không nhắc lại trong chương trình này, thay vào đó là lồng ghép thực hiện trên địa bàn.

Đại biểu Đàng Thị Mỹ Hương dẫn báo cáo thẩm tra, chỉ ra 6/58 nội dung của Hợp phần 1 thuộc chương trình khác (văn hóa và y tế) và nếu tiếp tục bố trí vốn sẽ gây trùng lắp và dàn trải. Đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát và quy định các nội dung hợp phần đảm bảo tính thống nhất, không bị trùng lắp trong vốn đầu tư, nhằm hạn chế thất thoát và nâng cao hiệu quả.

Về vấn đề giải ngân vốn, đại biểu Nguyễn Quốc Luận bày tỏ sự đồng tình với kiến nghị của Chính phủ về việc Quốc hội cho phép kéo dài thời gian thực hiện giải ngân vốn ngân sách nhà nước các chương trình MTQG năm 2026 đến hết ngày 31/12/2026, bao gồm cả vốn các năm trước được chuyển nguồn sang 2025. Lý do là hiện nay lượng vốn đã giao về cho các địa phương rất lớn nhưng chưa giải ngân được, thậm chí có nguồn vốn chưa phân bổ hết. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị Quốc hội xem xét cho phép các địa phương thực hiện theo cơ chế chính sách đặc thù là được quyết định điều chỉnh phương án phân bổ vốn đầu tư công, kinh phí thường xuyên giữa các chương trình MTQG. Đồng thời, điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn ngân sách nhà nước giữa chi đầu tư và chi thường xuyên của các dự án.

Ngoài ra, đại biểu đề nghị chủ động phân bổ và điều chỉnh nội dung thực hiện theo nhu cầu thực tế từ những dự án thành phần không còn đối tượng, hết nội dung chi, để tập trung nguồn lực vào các dự án đang có nhu cầu và khả năng hấp thụ vốn. Tiếp tục được sử dụng nguồn vốn của chương trình còn dư hoặc chưa phân bổ hết để thực hiện một số dự án cấp bách khắc phục hậu quả thiên tai, mưa bão, sạt lở đất trong thời gian vừa qua trên địa bàn các xã, thôn đặc biệt khó khăn.

Đại biểu Nguyễn Quốc Luận cũng lưu ý về việc Nghị quyết 174 của Quốc hội cuối năm 2024 chỉ cho phép kéo dài mà không nói gì đến điều chỉnh dự toán. Do đó, đề nghị Quốc hội cho phép đồng thời kéo dài thời gian thực hiện dự án đến hết 31/12/2026 và cho phép các địa phương chủ động điều chỉnh dự toán.