Trong giới tim mạch, suy tim từ lâu được ví như “chiến trường cuối cùng” của các bệnh lý tim mạch. Nhận định này được PGS.TS.BS Đỗ Doãn Lợi – Chủ tịch Phân hội Suy tim Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Tim mạch Việt Nam nhấn mạnh tại Hội nghị khoa học toàn quốc về suy tim vừa qua. Theo ông, phần lớn các bệnh lý tim mạch như tăng huyết áp, bệnh mạch vành, rối loạn nhịp tim nếu không được kiểm soát hiệu quả đều có thể tiến triển đến suy tim – giai đoạn bệnh không chỉ đe dọa tính mạng mà còn làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng sống của người bệnh.
Trên thế giới, suy tim ảnh hưởng khoảng 1–2% dân số. Tại Việt Nam, Bộ Y tế ước tính có khoảng 1,6 triệu người mắc bệnh. Đáng lo ngại, bệnh tim mạch hiện chiếm gần một phần ba số ca tử vong, trong khi suy tim tạo ra gánh nặng kinh tế lớn cho gia đình và xã hội. Mỗi đợt điều trị nội trú trung bình tốn khoảng 7,5 triệu đồng, chưa kể nhiều bệnh nhân phải nhập viện lặp đi lặp lại do các đợt mất bù. Về bản chất, suy tim là tình trạng tim không còn khả năng bơm đủ máu đáp ứng nhu cầu oxy của cơ thể.
Đặc biệt nguy hiểm là suy tim cấp – khi các triệu chứng nặng lên nhanh chóng, buộc người bệnh phải nhập viện cấp cứu. TS.BS Phạm Minh Tuấn (Viện Tim mạch Quốc gia, Bệnh viện Bạch Mai) cho biết, suy tim cấp là nguyên nhân hàng đầu gây nhập viện ở người trên 65 tuổi. Tỷ lệ tử vong trong thời gian nằm viện dao động từ 4–10%, trong khi nguy cơ tử vong trong vòng một năm sau xuất viện lên tới 25–30%.
Suy tim cấp có thể xảy ra đột ngột ở người chưa từng được chẩn đoán suy tim, hoặc xuất hiện trên nền suy tim mạn tính khi bệnh mất bù. Người bệnh thường rơi vào tình trạng khó thở dữ dội, thở nhanh, vật vã, không nằm được; nhiều trường hợp phù phổi cấp với cảm giác “chết đuối trên cạn”. Nếu không được can thiệp kịp thời, người bệnh có thể tụt huyết áp, rối loạn ý thức, tay chân lạnh và tiến triển thành sốc tim.
Theo các chuyên gia, nguyên nhân gây suy tim cấp rất đa dạng, bao gồm nhồi máu cơ tim cấp, viêm cơ tim, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, tắc động mạch phổi, rối loạn nhịp tim, nhiễm trùng nặng hoặc không tuân thủ điều trị. “Suy tim cấp là một tình trạng cấp cứu thực sự. Người bệnh tuyệt đối không tự ý thay đổi thuốc mà cần đến ngay cơ sở y tế để được đánh giá và xử trí kịp thời,” TS.BS Phạm Minh Tuấn nhấn mạnh.
Trước gánh nặng ngày càng lớn của suy tim, cách tiếp cận trong quản lý và điều trị đang có những thay đổi căn bản. Theo PGS.TS.BS Đỗ Doãn Lợi, y học tim mạch đang chuyển từ điều trị “đồng loạt” sang y học chính xác và cá thể hóa, ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và các thiết bị theo dõi từ xa nhằm quản lý bệnh nhân liên tục, phát hiện sớm các đợt cấp và giảm tái nhập viện. Một số bệnh viện tại Việt Nam đã tham gia chương trình quản lý suy tim của Hội Tim mạch châu Âu (ESC) và được công nhận là Trung tâm Chất lượng Chuẩn về Suy tim, cho thấy khả năng tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế.
Ở góc độ quản lý, PGS.TS.BS Nguyễn Tri Thức – Thứ trưởng Bộ Y tế cho biết Bộ đang xây dựng 12 cơ sở dữ liệu chuyên ngành, trong đó tim mạch và suy tim là lĩnh vực ưu tiên. Khi các hệ thống này hoàn thiện, ngành y tế sẽ có công cụ theo dõi sát bệnh mạn tính, hiệu quả điều trị và sử dụng thuốc, từ đó hỗ trợ hoạch định chính sách và phân bổ nguồn lực. Ông nhấn mạnh hai trụ cột then chốt hiện nay là cá thể hóa điều trị và chuyển đổi số, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của y tế cơ sở trong quản lý lâu dài bệnh suy tim.
Các chuyên gia thống nhất rằng suy tim không phải “án tử” nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng. Kiểm soát tốt huyết áp, đường máu, mỡ máu; điều trị triệt để bệnh mạch vành; bỏ thuốc lá, hạn chế rượu bia; duy trì lối sống lành mạnh và tuân thủ điều trị là những yếu tố then chốt giúp làm chậm tiến triển bệnh, giảm biến chứng và cải thiện tiên lượng cho hàng triệu người bệnh suy tim tại Việt Nam.









Bình luận
Đăng nhập hoặc Tạo tài khoản để tham gia bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu