Kỷ Niệm 101 Năm Ngày Báo Chí Cách Mạng Việt Nam

Thực trạng và giải pháp bảo vệ môi trường các khu công nghiệp dưới góc nhìn chuyên gia

Trong bối cảnh công nghiệp phát triển nhanh, nhiều khu công nghiệp đã đầu tư hệ thống xử lý chất thải tập trung. Tuy nhiên, môi trường tại không ít khu vực vẫn suy giảm nghiêm trọng. Lượng nước thải, khí thải, chất thải rắn gia tăng, trong khi hiệu quả kiểm soát chưa tương xứng, đặt ra thách thức trực tiếp đối với môi trường sống và sức khỏe cộng đồng.

Cảnh báo tình trạng ô nhiễm tại các khu công nghiệp

Theo số liệu thống kê của Bộ  nghiệp và Môi trường, tính đến đầu năm 2026 hiện đã có khoảng 95% khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Điều này cho thấy, phần lớn các khu công nghiệp đã tuân thủ quy định môi trường. Tuy nhiên, vẫn còn không ít khu đã đi vào hoạt động nhưng chưa đầu tư đầy đủ hệ thống xử lý, hoặc có nhưng vận hành kém hiệu quả. Điều này khiến một lượng lớn nước thải công nghiệp chưa qua xử lý đạt chuẩn vẫn xả ra môi trường mỗi ngày.

anh-chup-man-hinh-2026-04-17-luc-135810
Ô nhiễm nguồn nước tại khu công nghiệp (Ảnh minh hoạ)

Theo TS. Hoàng Dương Tùng – Chủ tịch Mạng lưới không khí sạch Việt Nam, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, vấn đề đáng lo ngại không chỉ nằm ở khối lượng chất thải, mà ở cơ chế tích tụ lâu dài của các chất ô nhiễm.

anh-chup-man-hinh-2026-04-17-luc-140023
TS. Hoàng Dương Tùng – Chủ tịch Mạng lưới không khí sạch Việt Nam, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường (Ảnh: NVCC)

Cũng theo ông, nhiều hợp chất độc hại không gây tác động tức thời mà âm thầm thẩm thấu vào đất, nguồn nước, đi vào chuỗi sinh học thông qua cây trồng, vật nuôi. Khi nồng độ ô nhiễm vượt quá ngưỡng tự làm sạch của môi trường, hệ sinh thái sẽ bị phá vỡ, kéo theo nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người. Đáng chú ý, khi các dấu hiệu ô nhiễm trở nên rõ ràng thì việc phục hồi môi trường thường tốn kém, kéo dài và khó đạt hiệu quả như ban đầu.

Tại các địa bàn công nghiệp trọng điểm như TP.Hồ Chí Minh, Hưng Yên, Bắc Giang, Thái Nguyên ..., nơi tập trung nhiều khu công nghiệp và dự án FDI, ô nhiễm môi trường diễn biến phức tạp. Nhiều kênh rạch như Tham Lương, Ba Bò, Thầy Cai… đang quá tải bởi nước thải, trở thành các “điểm nóng” ô nhiễm.

Một đoạn kênh Tham Lương - rạch Nước Lên (TP. Hồ Chí Minh) bị ô nhiễm (Ảnh: TL)
Một đoạn kênh Tham Lương - rạch Nước Lên (TP. Hồ Chí Minh) bị ô nhiễm (Ảnh: TL)

Không chỉ nguồn nước, ô nhiễm không khí tại các khu công nghiệp, đặc biệt là khu công nghiệp cũ, cũng có xu hướng gia tăng. Bụi, khí SO₂, CO₂ và tiếng ồn là những tác nhân chính. Theo các chuyên gia y tế môi trường, đây là nguyên nhân làm gia tăng các bệnh lý hô hấp, tim mạch trong cộng đồng dân cư lân cận.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường

Trong những năm gần đây, tốc độ công nghiệp hóa nhanh cùng với sự gia tăng mạnh của các khu công nghiệp đã tạo áp lực ngày càng lớn lên môi trường. Dù hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường liên tục được hoàn thiện, nhưng thực tế triển khai vẫn còn nhiều bất cập, chưa theo kịp tốc độ phát triển.

anh-chup-man-hinh-2026-04-17-luc-140901
PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, Phó Chủ tịch VIASEE, Viện trưởng Viện Chính sách Kinh tế Môi trường (Ảnh: TL)

Cho ý kiến về thực trạng này, PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, Phó Chủ tịch VIASEE, Viện trưởng Viện Chính sách Kinh tế Môi trường cho rằng, nguyên nhân cốt lõi nằm ở sự mất cân đối giữa lợi ích kinh tế và chi phí môi trường. Theo ông, chi phí xử lý chất thải đúng quy định thường cao, trong khi chế tài xử phạt ở một số trường hợp chưa đủ sức răn đe. Điều này khiến một số doanh nghiệp sẵn sàng lựa chọn “giải pháp rủi ro” để giảm chi phí, chấp nhận đánh đổi môi trường lấy lợi nhuận.

Thực tế cũng cho thấy, công tác quy hoạch khu công nghiệp tại một số địa phương còn dàn trải, thiếu gắn kết với năng lực hạ tầng môi trường. Nhiều khu công nghiệp chưa đầu tư đồng bộ hệ thống xử lý chất thải, hoặc có nhưng vận hành không hiệu quả, thậm chí vẫn tồn tại tình trạng xả thải trực tiếp ra môi trường.

Ống xả khói thải của Công ty cổ phần Dệt công nghiệp Hà Nội (Ảnh: TL)
Ống xả khói thải của Công ty cổ phần Dệt công nghiệp Hà Nội (Ảnh: TL)

Bên cạnh đó, nhận thức và trách nhiệm của một bộ phận doanh nghiệp còn hạn chế. Không ít cơ sở sản xuất chưa tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật, hoặc chỉ thực hiện mang tính đối phó, hình thức.

PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, Phó Chủ tịch VIASEE, Viện trưởng Viện Chính sách Kinh tế Môi trường phân tích thêm, công tác giám sát hiện nay vẫn nặng về kiểm tra hồ sơ, trong khi thiếu hệ thống quan trắc tự động, liên tục để kiểm chứng thực tế. Đây chính là “kẽ hở” khiến nhiều hành vi vi phạm có thể tồn tại trong thời gian dài mà không bị phát hiện.

Ngoài ra, vai trò của Ban quản lý khu công nghiệp và cơ quan chức năng tại một số địa phương chưa được phát huy hiệu quả. Hoạt động thanh tra, kiểm tra còn chậm, thiếu tính thường xuyên và chưa đủ sức răn đe, dẫn đến việc doanh nghiệp chưa thực sự chịu áp lực phải tuân thủ nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường.

Giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường

Để nâng cao hiệu quả quản lý môi trường tại các khu công nghiệp, các chuyên gia cho rằng cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó trọng tâm là hoàn thiện thể chế và siết chặt thực thi pháp luật. Việc chuyển sang áp dụng Luật Bảo vệ môi trường 2020 đã mở ra nhiều công cụ quản lý mới như kiểm soát theo vòng đời chất thải, phân loại tại nguồn và áp dụng các công cụ kinh tế. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất vẫn là đưa các quy định này đi vào thực tế một cách hiệu quả, tránh tình trạng “đúng trên giấy, yếu trong thực thi”.

Nhiều doanh nghiệp xả thải gây ô nhiễm môi trường (Ảnh: TL)
Nhiều doanh nghiệp xả thải gây ô nhiễm môi trường (Ảnh: TL)

Theo PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, Phó Chủ tịch VIASEE, Viện trưởng Viện Chính sách Kinh tế Môi trường, Chính phủ cần điều chỉnh các công cụ kinh tế như thuế, phí môi trường theo hướng tăng chi phí vi phạm, bảo đảm cao hơn chi phí tuân thủ. Khi đó, doanh nghiệp sẽ buộc phải thay đổi hành vi, lựa chọn phương án sản xuất an toàn thay vì đánh đổi môi trường để giảm chi phí.

Cùng với đó, việc rà soát, sửa đổi đồng bộ các luật liên quan như Luật Thanh tra, Luật Tài nguyên nước là cần thiết nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Ở cấp độ thực thi, các nhiệm vụ trọng tâm cần được đẩy mạnh gồm: quy hoạch bảo vệ môi trường gắn với phát triển khu công nghiệp; đầu tư hệ thống quan trắc tự động, giám sát liên tục và cảnh báo sớm; tăng cường thanh tra, kiểm tra đột xuất và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

Nước thải từ các khu công nghiệp gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng tại Cà Mau (Ảnh: TL)
Nước thải từ các khu công nghiệp gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng tại Cà Mau (Ảnh: TL)

Ở góc nhìn kỹ thuật và giám sát, PGS.TS Hoàng Dương Tùng nhấn mạnh, để kiểm soát hiệu quả cần chuyển từ giám sát định kỳ sang giám sát liên tục bằng công nghệ. Khi dữ liệu môi trường được số hóa, kết nối và minh bạch, các hành vi vi phạm sẽ khó có cơ hội che giấu.

Ngoài ra, cần siết chặt điều kiện cấp phép đầu tư, chỉ cho phép triển khai khi hạ tầng môi trường đã hoàn thiện; thúc đẩy phát triển khu công nghiệp sinh thái; tăng cường nguồn lực cho Quỹ bảo vệ môi trường và huy động xã hội hóa đầu tư. Đồng thời, nâng cao nhận thức cộng đồng, phát huy vai trò giám sát của người dân và mở rộng hợp tác quốc tế cũng là những giải pháp quan trọng nhằm hướng tới phát triển bền vững.

Có thể nói, từ góc nhìn chuyên gia, ô nhiễm môi trường khu công nghiệp không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà là bài toán quản trị. Khi những “khoảng trống thực thi” chưa được lấp đầy, mọi nỗ lực chính sách sẽ khó đạt hiệu quả như kỳ vọng. Bảo vệ môi trường vì thế cần được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với bảo vệ sức khỏe cộng đồng – mục tiêu cốt lõi của phát triển bền vững.