Kỷ Niệm 50 năm ngày thành phố Sài Gòn - Gia Định vinh dự mang tên Chủ Tịch Hồ Chí Minh

2 kịch bản cho làn sóng dịch thứ 4 tại Việt Nam, dự đoán thời điểm dịch kết thúc

Nhóm nghiên cứu thuộc Đại Học Sydney (ĐH) báo cáo độc lập, dẫn đầu bởi tiến sĩ Nguyễn Thu Anh, Viện Nghiên cứu Y khoa Woolcock, thuộc Đại học Sydney, nhận định, đợt dịch thứ tại Việt Nam có thể đã bắt đầu từ giữa tháng 4 và đã lây qua nhiều vòng lây nhiễm. Điều này đồng nghĩa với việc ca bệnh có thể đang "ẩn náu" trong cộng đồng.

 Nguồn lây đợt dịch thứ 4

Theo nhóm nghiên cứu, trong thời gian từ ngày 27/4/2021 đến 18/5/2021, số ca mắc COVID-19 tăng nhanh, tăng cao và lan rộng nhanh và nhiều hơn các đợt dịch trước, với tổng số 1.455 ca được phát hiện trên 28 tỉnh/thành phố. Dựa vào báo cáo phát hiện ca bệnh và thông tin dịch tễ từ Bộ Y tế và Sở Y tế một số tỉnh/thành phố, theo đánh giá của nhóm nghiên cứu, đợt dịch này có thể bắt đầu từ giữa tháng 4/2021 hoặc sớm hơn.

Vì có thể bắt đầu từ giữa tháng 4 nên đến khi phát hiện ca đầu tiên thì đợt dịch này đã qua nhiều vòng lây nhiễm, nghĩa là hiện đã có nhiều ca bệnh trong cộng đồng.

anh-chup-man-hinh-2021-05-22-luc-160650-16216756424552131923781

Theo nhóm nghiên cứu, nguồn lây có thể bắt nguồn từ các ca bệnh COVID-19 nhập cảnh nhưng không được cách ly chặt chẽ hoặc nhập cảnh trái phép. Kết quả giải trình tự gen chủng vi rút của một số ca bệnh cho kết quả là các chủng vi rút biến thể B.1.167.2 (Ấn Độ) và B.1.1.7 (Anh). Đây là các chủng vi rút mới xuất hiện ở Việt Nam.

Người dân trong cộng đồng mang vi rút, khi bị ốm (vì một nguyên nhân nào đó), đã nhập viện và làm lây lan vi rút trong các bệnh viện. Bệnh viện trở thành ổ dịch và tiếp tục lây ra ngoài cộng đồng. Quá trình lây lan này đã diễn biến qua nhiều vòng.

nh

 

Dựa trên những số liệu tính toán của nhóm nghiên cứu rất có thể dịch đã lây qua nhiều vòng. Nhóm đã đưa ra dẫn chứng về ổ lây tại BV Nhiệt đới TƯ cơ sở 2 đã qua ít nhất 5 vòng. Khi đang triển khai các biện pháp truy vết tại 2 bệnh viện thì chuỗi lây nhiễm đã tới Bắc Ninh và Lạng Sơn, sau đó lan sang Hòa Bình và Bắc Giang, chứng tỏ chúng ta đang đi sau dịch.

Theo nhóm chuyên gia, các chuỗi lây nhiễm COVID-19 trong cộng đồng đã qua nhiều vòng, việc cắt đứt chuỗi lây nhiễm để hạn chế các ổ dịch mới phức tạp hơn và cần thực hiện nhanh, triệt để hơn.

anh-chup-man-hinh-2021-05-22-luc-161405-16216756426251842301939
anh-chup-man-hinh-2021-05-22-luc-161415-1621675642637711874936

 

Các ổ dịch trong bệnh viện có thể kiểm soát được bằng biện pháp cách ly. Tuy nhiên các ổ dịch có liên quan tới những nơi nhiều người tập trung, khu công nghiệp lớn, các hoạt động nhạy cảm thì phức tạp và khó truy vết.

Phần lớn các ca mới được phát hiện cho đến hôm nay, ngày 18/5/2021, đều là các ca đã được cách ly. Tuy nhiên, nếu không xét nghiệm đủ rộng và bao phủ cả những người không có liên quan dịch tễ với các ca bệnh đã xác định thì có thể không phát hiện hết mầm bệnh trong cộng đồng. Đây là nguy cơ dẫn đến bùng phát các đợt dịch trong tương lai.

Ví dụ, ổ dịch tại khu công nghiệp An Đồn, Đà Nẵng với ca F0 không rõ nguồn lây được phát hiện ngày 11/5 do đi khám ho, sốt đã lây cho 30 công nhân khác; hoặc một số ca chưa rõ nguồn lây tại Điện Biên, Quảng Nam, Hải Phòng, Hà Nam, TP.Hồ Chí Minh.

Khi số bệnh nhân quá lớn, việc truy vết, cách ly sẽ không thể được thực hiện vì nguồn lực có hạn. Đồng thời, gánh nặng điều trị có thể vượt quá năng lực của hệ thống y tế.

Nhóm nghiên cứu khuyến cáo các tỉnh cần đặc biệt chú ý trong thời gian tới là: Điện Biên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Lạng Sơn, Hưng Yên, Hải Phòng, Hải Dương và Thái Nguyên.

2 kịch bản cho đợt dịch lần thứ 4 tại Việt Nam

Trước những diễn biến tình hình dịch bệnh vẫn đang diễn ra hết sức phức tạp, nhóm nghiên cứu đã đưa ra 2 kịch bản tại Việt Nam, cụ thể như sau:

Kịch bản 1 - hiện nay: Giữ nguyên các biện pháp phòng chống dịch hiện tại như truy vết, cách ly tập trung, cách ly y tế vùng dịch và giãn cách xã hội các khu vực có nguy cơ cao (giảm tiếp xúc xã hội ở mức 20% từ ngày 4/5 và 50% từ ngày 9/5 theo báo cáo gần nhất của Google mobility).

Kịch bản 2: Thực hiện giãn cách xã hội, giảm tiếp xúc trên quy mô cấp tỉnh/thành với các tỉnh có nguy cơ cao, số ca nhiễm mới tăng nhanh (giảm tiếp xúc xã hội ở mức 20% từ ngày 4/5, 50% từ ngày 9/5 và 60% từ ngày 24/5).

Kết quả dự báo của hai kịch bản như sau:

Kịch bản 1- hiện naySố ca lây nhiễm cộng đồng cộng dồn từ đầu đợt dịch đến 18/5 dao động từ 1.600 đến 2.600. 

Đỉnh dịch nằm ở ngày 21/5/2021 với số ca nhiễm mỗi ngày có thể lên tới 150 - 210 ca (đây là số ca thực nhiễm trong cộng đồng, không phải số ca phát hiện và báo cáo). 

Dịch có thể kết thúc vào giữa hoặc cuối tháng 6/2021 với tổng cộng từ 4.100 - 6.600 (Biểu đồ 5 và 6). Tuy nhiên, do không có đủ thông tin chi tiết về ổ dịch tại Bắc Giang nên có thể tình hình dịch sẽ nghiêm trọng hơn.

Kịch bản 2 - giảm tiếp xúc 60%Đỉnh dịch vẫn ở ngày 21/5 tuy nhiên dịch có thể kết thúc sớm hơn 10 ngày với số ca tích lũy ít hơn, dao động từ tổng cộng 2.900 - 4.500 ca.

anh-chup-man-hinh-2021-05-22-luc-161818-1621675642690945681567
anh-chup-man-hinh-2021-05-22-luc-161835-16216756427292072528735

Đề xuất phương án phòng chống dịch

Các ổ dịch cộng đồng ở Đà Nẵng (tháng 7-8/2020), Hải Dương (tháng 1-3/2021) đã được kiểm soát hiệu quả. Điều tra tỷ lệ lưu hành kháng thể COVID-19 khi vụ dịch kết thúc cho thấy mặc dù có một vài ca bệnh có kháng thể nhưng không bị phát hiện, tỷ lệ lưu hành kháng thể là rất thấp. Có nghĩa là dịch đã được ngăn chặn triệt để và kịp thời. Tuy nhiên, ở đợt dịch thứ 4, số lượng người mắc bệnh lớn và tác động lên kinh tế, xã hội cũng rất lớn.

Các nhà nghiên cứu đề xuất các biện pháp chống dịch theo nguyên tắc chuyển từ phòng chống dịch sang tấn công bằng chiến lược xét nghiệm tầm soát kết hợp đáp ứng dịch theo 4 mức độ và bao phủ nhanh vaccine COVID-19. Các địa phương có thể chủ động tự kích hoạt các mức độ phòng chống dịch kịp thời, linh hoạt theo bảng phân loại này.

Mức 1 chưa có ca bệnh COVID trong cộng đồng: Thực hiện trên toàn tỉnh: Triển khai các biện pháp 5K và quản lý chặt chẽ khu cách ly.

Xét nghiệm: Toàn bộ người thuộc nhóm nguy cơ cao như nhân viên y tế, nhân viên khu cách ly hàng tuần; Toàn bộ nhân viên dịch vụ (sân bay, bến xe, giao hàng hóa,...) từ 2-4 tuần/lần; Toàn bộ người có dấu hiệu ho/sốt; Thực hiện chiến lược xét nghiệm rộng cho tới khi đạt độ bao phủ vaccine COVID là 70%.

Mức 2 xuất hiện: 1 - 3 ca bệnh trong cộng đồng trong một quận/huyện trong 14 ngày qua, hoặc có 1 chuỗi lây nhiễm tới F2 rõ nguồn lây, hoặc chỉ phát hiện 1 ổ dịch:

- Phong tỏa các thôn/xóm, khu phố, nhà máy có ca bệnh. Truy vết và cách ly như đang thực hiện.

- Xét nghiệm: Toàn bộ người thuộc nhóm nguy cơ cao như nhân viên y tế, nhân viên khu cách ly, nhân viên dịch vụ (sân bay, bến xe, giao hàng hóa,...) hàng tuần; Toàn bộ bệnh nhân và người có dấu hiệu ho/sốt; Xét nghiệm toàn bộ dân trong khu vực phong tỏa (xét nghiệm gộp hoặc xét nghiệm kháng nguyên cách ngày)

- Các biện pháp hạn chế tụ tập đông người trong ít nhất 2 tuần cho tới khi không còn ca bệnh trong cộng đồng trong 14 ngày qua.

Đóng cửa triệt để các dịch vụ không thiết yếu (bar, vũ trường, karaoke, các dịch vụ hát với nhau, v.v); Dừng các hoạt động có sự tụ tập đông người khi có từ 20 người trở lên tham gia; Giảm tần suất di chuyển đến các địa phương khác; Cho phép các cơ sở dịch vụ thiết yếu mở cửa nếu thực hiện nghiêm túc các biện pháp phòng dịch (rửa tay, đeo khẩu trang, giãn cách, ghi lại danh sách khách hàng); Giám sát nghiêm việc thực hiện 5K (Tương ứng với mức giảm tiếp xúc 40%).

Mức 3: Khi xuất hiện 4 -

Phong tỏa các thôn/xóm, khu phố, nhà máy có ca bệnh hoặc khu công nghiệp có trên 1 nhà máy có ca bệnh. Truy vết và cách ly như đang thực hiện.

Xét nghiệm; Toàn bộ người thuộc nhóm nguy cơ cao như nhân viên y tế, nhân viên khu cách ly, nhân viên dịch vụ (sân bay, bến xe, giao hàng hóa,...) hàng tuần; Toàn bộ bệnh nhân và người có dấu hiệu ho/sốt; Xét nghiệm toàn bộ dân trong khu vực phong tỏa (xét nghiệm gộp hoặc xét nghiệm kháng nguyên cách ngày)

Các biện pháp hạn chế tụ tập đông người dưới đây trong ít nhất 2 tuần cho tới khi số ca bệnh trong cộng đồng

Dừng các hoạt động có sự tụ tập đông người khi có từ 5 người trở lên tham gia; Dừng các dịch vụ kinh doanh đòi hỏi có người tiếp xúc với người (đặc biệt là các dịch vụ vui chơi giải trí như bar, vũ trường, karaoke, các dịch vụ hát với nhau, gym, rạp chiếu phim), trừ các dịch vụ thiết yếu. Tạm dừng hoạt động các phố đi bộ; Dừng đến trường, thực hiện việc học/thi online; Hạn chế di chuyển đến các địa phương khác; Khuyến khích người dân chỉ ra khỏi nhà khi có việc cần thiết; Khuyến khích khám bệnh từ xa nếu có thể(Tương ứng với mức giảm tiếp xúc 60%).

Mức 4: Khi xuất hiện: ≥ 10 ca bệnh trong cộng đồng trong 14 ngày qua, hoặc tự nhận định có năng lực phòng dịch hạn chế

Tại quận/huyện có ca bệnh: Phong tỏa các thôn/xóm, khu phố, nhà máy có ca bệnh hoặc khu công nghiệp có trên 1 nhà máy có ca bệnh. Truy vết và cách ly như đang thực hiện.

Xét nghiệm: Toàn bộ người thuộc nhóm nguy cơ cao như nhân viên y tế, nhân viên khu cách ly, nhân viên dịch vụ (sân bay, bến xe, giao hàng hóa,...) hàng tuần; Toàn bộ bệnh nhân và người có dấu hiệu ho/sốt; Xét nghiệm toàn bộ dân trong khu vực phong tỏa (xét nghiệm gộp hoặc xét nghiệm kháng nguyên cách ngày).

Các biện pháp hạn chế tụ tập đông người trong ít nhất 2 tuần cho tới khi số ca bệnh trong cộng đồng < 10 trong 14 ngày qua, và chuyển dần các mức độ tương ứng với tình hình dịch nêu trên.

Yêu cầu người dân chỉ ra khỏi nhà khi có việc cần thiết; Dừng các hoạt động, đóng cửa các dịch vụ có tụ tập; Dừng di chuyển ngoại tỉnh; Dừng các dịch vụ kinh doanh trừ các dịch vụ thiết yếu; Đóng cửa trường học; Khuyến khích khám bệnh từ xa nếu có thể (Tương ứng với mức giảm tiếp xúc 80%).

Trong đợt dịch thứ 4, kết quả giải trình tự gen cho thấy hiện đã có các chủng vi rút sau lưu hành: B.1.1.7, B.1.617.2 (ở cộng đồng), B.1.222, B.1.619 (ở ca nhập cảnh). Tuy nhiên, theo thông tin công bố, số lượng mẫu được giải trình tự gen còn ít nên chưa phản ánh được bản đồ phân bố các chủng vi rút hiện lưu hành ở Việt Nam.

Bên cạnh đó, cần tăng cường chia sẻ kịp thời kết quả giải trình tự gen trong nước và với quốc tế để góp phần giúp kiểm soát dịch toàn cầu.

Song song với các biện pháp phòng chống như trên, cần nhanh chóng tạo miễn dịch cộng đồng thông qua việc bao phủ tiêm vaccine phòng bệnh. Độ bao phủ phụ thuộc và hiệu quả vaccine sử dụng và chiến lược tiêm vaccine. Tuy nhiên, ngay cả khi có vaccine, các biện pháp nêu trên vẫn phải được duy trì và tăng cường vì hiệu quả của các vaccine chưa ở mức tối đa và để có đủ độ bao phủ cần thiết của vaccine cần phải có thời gian dài.

Chỉ sử dụng các vaccine có bằng chứng khoa học là có hiệu lực cao với chủng vi rút đang lưu hành tại Việt Nam, như Pfizer & BioNTech, Moderna, Astra Zeneca ChAdOx1 nCoV-2019,...) . Khi dịch tễ lưu hành các chủng vi rút thay đổi, cần thay đổi chiến lược vaccine phù hợp. Sử dụng vaccine có hiệu quả thấp sẽ tạo tâm lý chủ quan ở người được tiêm vaccine, dẫn tới nguy cơ bùng phát dịch lớn hơn.

Nhóm tác giả nghiên cứu: TS. BS. Nguyễn Thu Anh (Dịch tễ bệnh truyền nhiễm và nhân học); CN. Ngô Hoàng Anh (Toán); DS. Dương Thị Duyên (Dược); TS. BS. Lê Thị Kim Ánh (Dịch tễ và thống kê); BSCKII. Nguyễn Nguyên Huyền (Bác sĩ truyền nhiễm); ThS. Nguyễn Thị Hương Thảo (Xã hội học).

 

 

Minh Ngọc