Kỷ Niệm 101 Năm Ngày Báo Chí Cách Mạng Việt Nam

Dòng chảy ngầm của rác thải công nghiệp: Khi vi phạm không còn là cá biệt

Từ vụ triệt phá đường dây hơn 20.000 tấn chất thải tại TP. Hồ Chí Minh đến các vụ việc ở Đà Nẵng, Hưng Yên, Bắc Ninh, …, có thể thấy rõ một thực tế: vi phạm trong lĩnh vực rác thải công nghiệp không còn mang tính đơn lẻ mà đang vận hành theo một “dòng chảy ngầm” có tổ chức. Khi hồ sơ vẫn thể hiện “đúng quy trình” nhưng môi trường tiếp tục bị xâm hại, câu hỏi đặt ra là những lỗ hổng trong công tác quản lý đang nằm ở đâu.

Từ Bắc tới Nam: Khi tội phạm môi trường vận hành như một “chuỗi doanh nghiệp ngầm”

Thời gian qua, liên tiếp các chuyên án về môi trường đã được tcác cơ quan chức năng triệt phá tại nhiều địa phương đã cho thấy một thực tế đáng lo ngại: tội phạm đổ trộm chất thải công nghiệp không còn là hành vi đơn lẻ, mà đã hình thành những “chuỗi doanh nghiệp ngầm” vận hành bài bản, có tổ chức và có địa bàn hoạt động liên tỉnh.

Điển hình như vụ việc Công an TP. Hồ Chí Minh đã triệt phá một đường dây đổ thải quy mô đặc biệt lớn do Lê Thị Thùy Trang cầm đầu hiện đang nhận được sự quan tâm đặc biệt từ dư luận. Theo hồ sơ điều tra, nhóm này đã tổ chức thu gom và xử lý trái phép hơn 20.000 tấn chất thải công nghiệp phát sinh từ nhiều nhà máy trên địa bàn thành phố và các tỉnh lân cận.

Các đối tượng tại cơ quan công an (Ảnh: CACC)
Các đối tượng tại cơ quan công an (Ảnh: CACC)

Phương thức hoạt động được thiết kế tinh vi theo hai lớp. Ở lớp “hợp pháp”, từ năm 2024 đến nay, Lê Thị Thùy Trang và các đồng phạm đã tổ chức, điều hành một “hệ sinh thái” gồm nhiều doanh nghiệp như Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Môi trường Thịnh Phát, Công ty TNHH Thương mại Vận chuyển An Bình, Công ty TNHH MT Đất Xanh Miền Nam… để ký hợp đồng vận chuyển, xử lý chất thải rắn thông thường từ các doanh nghiệp sản xuất (dệt nhuộm, giấy, thủy sản, đá granite…) với đầy đủ chứng từ, hóa đơn, hồ sơ kỹ thuật. Tuy nhiên, ở lớp vận hành thực tế, toàn bộ chất thải sau khi thu gom lại không được xử lý đúng quy chuẩn, mà được vận chuyển bằng xe bồn, xe tải vào ban đêm, đổ trộm tại các khu đất trống, bãi hoang ven đô, thậm chí cả khu vực giáp ranh tỉnh. Các điểm đổ thường xuyên thay đổi nhằm né tránh kiểm tra, tạo thành mạng lưới “bãi rác di động” tại nhiều tỉnh thành khiến cho các cơ quan chức năng khó kiểm soát.

Toàn cảnh một trong nhiều khu chôn lấp chất thải do Lê Thị Thùy Trang cầm đầu (Ảnh: TL)
Toàn cảnh một trong nhiều khu chôn lấp chất thải do Lê Thị Thùy Trang cầm đầu (Ảnh: TL)

Không dừng lại ở TP. Hồ Chí Minh, mô hình này trước đó cũng đã được phát hiện với cấu trúc tương tự tại tỉnh Hưng Yên khi cuối năm 2025, Phòng Cảnh sát kinh tế - Công an tỉnh Hưng Yên đã phối hợp với các đơn vị liên quan tiến hành cân tổng khối lượng chất thải rắn trên, xác định được là 47.2 tấn đồng thời lấy mẫu chất thải giám định. Căn cứ kết quả làm việc, tài liệu xác minh và các quy định pháp luật, Phòng Cảnh sát kinh tế - Công an tỉnh Hưng Yên đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty Cổ phần Tập đoàn đầu tư và phát triển Công nghệ cao Victoria về hành vi chôn, lấp chất thải rắn thông thường trái quy định về bảo vệ môi trường với số tiền phạt 150 triệu đồng.

anh-chup-man-hinh-2026-04-16-luc-094845
Hiện trường vụ đổ trộm hơn 47 tấn chất thải rắn (Ảnh: Công an tỉnh Hưng Yên)

Quá trình điều tra cũng cho thấy phía sau vụ việc là đường dây do Nguyễn Văn Lợi và Phạm Văn Dũng tổ chức. Dưới danh nghĩa nhận xử lý chất thải cho doanh nghiệp, các đối tượng không thực hiện xử lý mà vận chuyển đi đổ trộm tại đất nông nghiệp, khu dân cư, chủ yếu vào ban đêm và rạng sáng. Các điểm đổ được sử dụng trong thời gian ngắn rồi nhanh chóng di chuyển, khiến phạm vi ô nhiễm lan rộng và gây khó khăn cho công tác kiểm soát.

Lực lượng chức năng lấy mẫu tại các hố đất để kiểm tra (Ảnh: CACC)
Lực lượng chức năng lấy mẫu tại các hố đất để kiểm tra (Ảnh: CACC)

Còn tại Bắc Ninh, cuối năm 2024, Công an tỉnh Bắc Ninh đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Ngô Xuân Lợi -  Giám đốc Công ty TNHH Xây dựng sản xuất và Thương mại Phú Lâm. Theo kết quả điều tra, doanh nghiệp này dù được cấp phép thu gom chất thải nguy hại nhưng đã không thực hiện đúng quy trình xử lý. Thay vào đó, chất thải sau khi thu gom được đưa về khuôn viên cơ sở để chôn lấp trực tiếp xuống đất hoặc đốt lộ thiên, chủ yếu vào thời điểm chiều tối và ban đêm nhằm tránh bị phát hiện. Hoạt động vi phạm diễn ra trong thời gian dài, với khối lượng lớn chất thải không qua xử lý, khiến nhiều khu vực có nguy cơ ô nhiễm đất, nước ngầm và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường xung quanh.

Lực lượng công an bắt quả tang Nhà máy rác Bắc Quảng Nam chôn lấp, đổ chất thải trái quy định (Ảnh: CACC)
Lực lượng công an bắt quả tang Nhà máy rác Bắc Quảng Nam chôn lấp, đổ chất thải trái quy định (Ảnh: CACC)

Đáng chú ý, qua điều tra một số vụ án, cơ quan chức năng đã làm rõ trách nhiệm của các doanh nghiệp sản xuất – nguồn phát sinh chất thải. Dù ký hợp đồng xử lý với đầy đủ hồ sơ, nhưng việc chấp nhận mức giá thấp bất thường, không tương xứng với chi phí xử lý hợp pháp cho thấy các đơn vị này đã phần nào nhận thức được rủi ro. Chính lựa chọn vì lợi ích kinh tế này đã gián tiếp tiếp tay cho các đường dây đổ trộm chất thải, khiến vi phạm không chỉ dừng lại ở khâu xử lý mà bắt đầu ngay từ khâu phát sinh.

Bãi chứa rác thải xây dựng trái phép ở xã Bát Tràng, TP. Hà Nộ. (Ảnh: Công an Hà Nội)
Bãi chứa rác thải xây dựng trái phép ở xã Bát Tràng, TP. Hà Nội  (Ảnh: Công an Hà Nội)

Từ hàng loạt vụ việc diễn ra trên phạm vi cả nước đang cho thấy một thực tế: rác thải công nghiệp không còn đổ chộm đơn lẻ, mà đang bị cuốn vào một chuỗi liên kết ngầm có tổ chức, nơi mỗi khâu từ phát sinh, vận chuyển đến tiêu hủy đều được gắn với lợi ích cụ thể. Thực trạng này cho thấy vấn đề đã vượt ra khỏi phạm vi ô nhiễm môi trường thông thường mà đang trở thành thách thức trực tiếp đối với công tác  quản lý nhà nước và khả năng thực thi pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Khi hồ sơ “đúng quy trình” chỉ là vỏ bọc cho nguồn thải trái phép

Theo Luật Bảo vệ môi trường 2020, chất thải công nghiệp phải được quản lý chặt chẽ theo một quy trình khép kín: từ lúc phát sinh, phân loại, lưu giữ, vận chuyển cho đến xử lý cuối cùng đều phải có hồ sơ, hợp đồng và phải được giám sát kỹ thuật đầy đủ. Nói cách khác, mọi “đường đi” của chất thải đều phải được kiểm soát và có thể truy vết. Tuy nhiên, thực tế triển khai ở nhiều nơi lại không vận hành đúng như quy định này.

anh-chup-man-hinh-2026-04-17-luc-105309
 Quy trình xử lý rác thải (Ảnh: TL)

Từ hàng loạt vụ việc đã bị phát hiện, xử lý trong thời gian gần đây đã cho thấy một thực tế đáng lo ngại: trên hồ sơ, quy trình quản lý chất thải vẫn được doanh nghiệp thực hiện đầy đủ và “đúng chuẩn”. Các hợp đồng xử lý được ký kết, chứng từ vận chuyển được lập, hóa đơn được hoàn thiện theo quy định. Nếu chỉ dựa vào hồ sơ, giấy tờ thì toàn bộ quy trình gần như không có dấu hiệu bất thường.

Tuy nhiên, khi rời khỏi phạm vi nhà máy, rác thải lại có thể đi theo một “lộ trình khác”. Thay vì được đưa đến cơ sở xử lý đúng quy định, nhiều trường hợp bị chuyển hướng, đổ trộm ra môi trường hoặc xử lý trái phép nhằm cắt giảm chi phí. Đáng chú ý, những khâu sai phạm này hoàn toàn không được phản ánh trong hệ thống hồ sơ, sổ sách – vốn vẫn là căn cứ chính trong hoạt động thanh tra, kiểm tra hiện nay.

Bãi chứa rác thải xây dựng không phép cạnh cụm công nghiệp Lại Yên (xã Sơn Đồng, Hà Nội) với nhiều loại rác chất thành đống cao (Ảnh: TL)
Bãi chứa rác thải xây dựng không phép cạnh cụm công nghiệp Lại Yên (xã Sơn Đồng, Hà Nội) với nhiều loại rác chất thành đống cao (Ảnh: TL)

Trao đổi với Phóng viên Tạp chí Sức Khoẻ Cộng Đồng, TS. Luật sư Đặng Văn Cường – Trưởng Văn phòng Luật sư Chính Pháp nhận định, điểm nghẽn hiện nay không nằm ở quy định pháp luật mà ở cơ chế giám sát thực thi. Khi hoạt động thanh tra vẫn chủ yếu dựa vào hồ sơ do doanh nghiệp cung cấp, nguy cơ “hợp thức hóa” sai phạm bằng giấy tờ là rất lớn.

anh-chup-man-hinh-2026-04-17-luc-110930
TS. Luật sư Đặng Văn Cường – Trưởng Văn phòng Luật sư Chính Pháp

Cũng theo Luậ sư, nhiều doanh nghiệp có thể xây dựng hồ sơ đầy đủ, hợp lệ nhưng không phản ánh đúng thực tế xử lý chất thải. Điều đáng lo ngại không chỉ là vi phạm đơn lẻ, mà là khả năng sai phạm tồn tại kéo dài do thiếu kiểm tra thực địa và công cụ giám sát độc lập, làm suy giảm hiệu lực quản lý và gia tăng rủi ro môi trường.

Dưới góc độ chuyên môn, TS Hoàng Dương Tùng – Chủ tịch Mạng lưới không khí sạch Việt Nam, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường cho rằng, ô nhiễm từ chất thải công nghiệp thường không biểu hiện ngay mà âm thầm tích tụ theo thời gian. Các chất độc có thể thấm dần vào đất, nguồn nước, từ đó tác động đến cây trồng, vật nuôi và sức khỏe con người.

TS. Hoàng Dương Tùng – Chủ tịch Mạng lưới không khí sạch Việt Nam, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường (Ảnh: NVCC)
TS. Hoàng Dương Tùng – Chủ tịch Mạng lưới không khí sạch Việt Nam, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường (Ảnh: NVCC)

Theo ông, khi các biểu hiện ô nhiễm trở nên rõ ràng thì hậu quả thường đã lan rộng, trong khi việc truy tìm chính xác nguồn phát thải lại gặp nhiều khó khăn do quá trình phát tán diễn ra trong thời gian dài và qua nhiều khâu trung gian.

Thực tế tại nhiều địa phương cho thấy, không ít khu vực xuất hiện tình trạng đất suy giảm chất lượng, nguồn nước biến đổi bất thường nhưng khó xác định rõ nguyên nhân. Trong bối cảnh đó, vấn đề “đúng quy trình” trên hồ sơ lại vô tình trở thành lớp vỏ  cho các hành vi vi phạm, khiến các sai phạm khó bị phát hiện.

Lực lượng chức năng Đồng Nai tổ chức khám nghiệm hiện trường đổ trộm hàng trăm tấn chất thải công nghiệp (Ảnh: TL)
Lực lượng chức năng Đồng Nai tổ chức khám nghiệm hiện trường đổ trộm hàng trăm tấn chất thải công nghiệp (Ảnh: TL)

Trước thực trạng này, nhiều ý kiến cho rằng cơ quan chức năng cần siết chặt kiểm soát, bảo đảm sự thống nhất giữa hồ sơ và thực tế. Nếu hoạt động kiểm tra vẫn chủ yếu dừng ở việc “xem giấy” mà thiếu giám sát trực tiếp tại hiện trường, nguy cơ “giấy tờ sạch – môi trường bẩn” sẽ còn kéo dài, làm suy giảm hiệu lực quản lý nhà nước và gia tăng rủi ro đối với môi trường.

Khi vi phạm không còn là rủi ro, mà trở thành lựa chọn

Từ các vụ án môi trường thời gian qua có thể thấy các hành vi vi phạm có một mẫu số chung đó là: động cơ lợi nhuận đang chi phối hành vi vi phạm. Nguyên nhân xuất phát từ chi phí xử lý chất thải nguy hại theo đúng quy định - từ phân loại, vận chuyển đến xử lý thường rất cao, đòi hỏi các đơn vị xử lý phải đầu tư công nghệ và bắt buộc tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình. Thế nhưng ở chiều ngược lại, việc đổ trộm, chôn lấp hoặc xử lý không đạt chuẩn lại có thể giúp doanh nghiệp cắt giảm đáng kể chi phí. Chính khoảng chênh lệch này đã trở thành “động lực” để các doanh nghiệp vì lợi nhuận tiến hành các vi vi phạm.

Bắt quả tang xe tải đổ trộm rác công nghiệp ra môi trường (Ảnh: TL)
Bắt quả tang xe tải đổ trộm rác công nghiệp ra môi trường (Ảnh: TL)

Không chỉ có vậy, trên thực tế, nhiều đơn vị chấp nhận ký hợp đồng xử lý với mức giá thấp bất thường – mức giá khó có thể thực hiện nếu tuân thủ đầy đủ quy trình. Phần chi phí bị “cắt giảm” thường nằm ở việc bỏ qua các công đoạn xử lý bắt buộc. Khi đó, vi phạm không còn mang tính bộc phát, mà trở thành một lựa chọn có tính toán, trong đó lợi ích kinh tế được đặt lên trên các yêu cầu pháp luật và an toàn môi trường.

Cho ý kiến về vấn đề này, Luật sư Mai Thanh Bình - Giám đốc Công ty Luật TNHH Mai Thanh Bình cảnh báo, khi chi phí vi phạm thấp hơn chi phí tuân thủ, hành vi sai phạm rất dễ bị doanh nghiệp coi như một “lựa chọn kinh tế” trong quá trình tính toán chi phí – lợi nhuận. Trong bối cảnh đó, việc chấp nhận rủi ro vi phạm để giảm chi phí sản xuất có thể trở thành quyết định có chủ đích, thay vì là hành vi mang tính bột phát.

anh-chup-man-hinh-2026-04-17-luc-124019
Luật sư Mai Thanh Bình - Giám đốc Công ty Luật TNHH Mai Thanh Bình

Theo Luật sư, nếu cơ chế giám sát và chế tài không đủ mạnh, pháp luật sẽ dần mất đi vai trò răn đe, thậm chí bị “vô hiệu hóa” ngay trong thực tiễn. Khi đó, thị trường có thể vận hành theo hướng lệch chuẩn, nơi những doanh nghiệp tuân thủ lại chịu bất lợi về chi phí, còn hành vi vi phạm lại được “khuyến khích ngầm”, điều này sẽ gây ra hệ lụy lâu dài đối với môi trường và công tác quản lý của các cơ quan chức năng.

Từ thực tế tại nhiều địa phương cho thấy, người dân đang phải trực tiếp gánh chịu hậu quả từ các hành vi vi phạm môi trường. Tại những khu vực từng xảy ra đổ thải trái phép, đất đai suy thoái, nguồn nước ô nhiễm, đời sống và sinh kế của người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tuy nhiên, điều khiến dư luận bức xúc không chỉ dừng ở thiệt hại môi trường, mà còn là sự thiếu tương xứng trong xử lý trách nhiệm.

anh-chup-man-hinh-2026-04-17-luc-124938
Tại những khu vực từng xảy ra đổ thải trái phép, đất đai suy thoái, nguồn nước ô nhiễm, đời sống và sinh kế của người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng (Ảnh: TL)

Nhiều ý kiến cho rằng, trong khi người dân chịu tác động kéo dài, thì việc xử lý các đối tượng vi phạm ở một số trường hợp vẫn chưa đủ sức răn đe.

Thực trạng này đang đặt ra nguy cơ hình thành một vòng xoáy tiêu cực: vi phạm tiếp diễn, niềm tin vào pháp luật bị suy giảm, hiệu lực quản lý nhà nước bị ảnh hưởng. Khi sai phạm không bị xử lý tương xứng, rất dễ dẫn tới tâm lý coi đó là “lệ ngầm”, làm xói mòn kỷ cương trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Từ các vụ án đã được xử lý, phản ánh của người dân đến ý kiến của chuyên gia, có thể thấy một thực tế đáng lưu ý: rác thải công nghiệp vẫn chưa được kiểm soát một cách thực chất, vẫn tồn tại những khoảng trống trong giám sát và thực thi.

 

Kỳ 2: “Những vùng đất ‘chết’: Khi môi trường bị đầu độc có hệ thống” – nơi hậu quả không còn nằm trong hồ sơ, mà hiện hữu trong chính cuộc sống người dân.