Theo Báo cáo của Bộ Y tế, Dự thảo Luật Phòng bệnh bước đầu được thiết kế gồm 6 chương, 101 điều; trong đó tập trung vào các nội dung lớn là: Phòng chống bệnh truyền nhiễm; Phòng chống bệnh không lây nhiễm; Phòng chống rối loạn sức khỏe tâm thần; Dinh dưỡng trong phòng bệnh và Các điều kiện bảo đảm cho công tác phòng bệnh. Đặc biệt, nội dung luật cũng đã lồng ghép được một số vấn đề mà dư luận rất quan tâm, chú ý trong thời gian qua như: phòng ngừa, quản lý, giám sát các chứng rối loạn sức khoẻ tâm thần; dinh dưỡng học đường; đẩy mạnh khám sức khoẻ toàn dân....
Thẩm tra sơ bộ dự thảo Luật Phòng bệnh, Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội đánh giá cao nỗ lực của Bộ Y tế khi trong thời gian ngắn đã kịp thời xây dựng được văn bản luật và lấy ý kiến rộng rãi của nhiều tổ chức cá nhân. Tuy nhiên, đi vào phần nội dung cụ thể của dự thảo luật vẫn cần điều chỉnh, bổ sung thêm các nội dung để luật sát với thực tế hơn.
Sức khỏe tâm thần: Cần tiếp cận toàn diện, tránh dừng ở khẩu hiệu
Theo dự thảo luật, rối loạn sức khỏe tâm thần được quy định trong một chương riêng, với các nội dung như xác định nhóm nguy cơ, biện pháp phòng ngừa và trách nhiệm của cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên, nhiều đại biểu cho rằng các điều khoản hiện nay còn sơ sài, chưa đủ bao quát thực tiễn.
Đề cập tới vấn đề này, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Hoàng Mai nhấn mạnh: “Khoản 2 điều 30 quy định người thuộc nhóm nguy cơ cao mắc rối loạn sức khỏe tâm thần được khám sàng lọc định kỳ nhằm phát hiện sớm. Vậy các đồng chí cho biết nhóm nguy cơ cao là nhóm nào để chẩn đoán? Rõ ràng chúng ta đang thiếu xác định cái nhóm nguy cơ cao này. Thứ hai, liên quan đến cái việc mà được khám sàng lọc, thì ở đây là ai sẽ chi việc khám sàng lọc và tổ chức như thế nào, thì cũng phải làm rõ”
Đồng tình với ý kiến trên, Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Thị Mai Hoa nêu thắc mắc: “Khoản 3 Điều 30 quy định biện pháp phòng ngừa rối loạn sức khỏe tâm thần gồm: phòng ngừa toàn diện, có chọn lọc và được chỉ định. Nhưng đọc lên tôi cũng không hiểu rõ. Rất mong Ban soạn thảo đầu tư thêm công sức để làm sáng tỏ, nếu không sẽ khó thực hiện”.
Theo nhiều ý kiến của các đại biểu trong phiên họp, nhu cầu có một luật riêng về sức khoẻ tâm thần là rất cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Thời gian qua, tỉ lệ người mắc bệnh tự kỉ, trầm cảm và các rối loạn tâm thần khác gia tăng nhanh chóng, nhưng hệ thống phòng và chữa rối loạn tâm thần ở nước ta lại chưa được quan tâm đúng mực. Điều này sẽ dẫn đến nhiều hệ quả cho xã hội, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của thế hệ trẻ. Chính vì vậy, không ít ý kiến lo ngại rằng nếu luật chỉ dừng lại ở mức nguyên tắc thì khi triển khai, các địa phương sẽ lúng túng, thậm chí bỏ qua nhiệm vụ quan trọng này.
Trong phiên thảo luận, nhiều ý kiến cũng tập trung vào nội dung tư vấn tâm lý học đường – lĩnh vực được xem là then chốt để phát hiện sớm rối loạn sức khỏe tâm thần ở học sinh, sinh viên. Một số đại biểu đề nghị cần luật hóa trách nhiệm của nhà trường trong việc bố trí nhân sự tư vấn tâm lý. Tuy nhiên, không nhất thiết phải là bác sĩ tâm thần. Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh nhấn mạnh: “Chúng ta có thể giao nhiệm vụ cho giáo viên hoặc nhân viên chuyên trách đã được tập huấn. Quan trọng là phải có kênh hỗ trợ kịp thời, thường xuyên cho học sinh”
Tuy nhiên, cũng có ý kiến đại biểu cảnh báo về tình trạng tư vấn trôi nổi, thiếu chuẩn mực trên mạng xã hội. Chính vì vậy, luật cần có quy định để quản lý chất lượng dịch vụ tư vấn tâm lý. để xoá những ‘chuyên gia tự phong’, gây ra hệ lụy khôn lường cho xã hội.
Dinh dưỡng toàn dân – Bài toán giữa phổ quát và nhóm mục tiêu
Một trong những nội dung còn nhiều ý kiến khác nhau khi bàn về Luật Phòng bệnh chính là cách tiếp cận đối với chính sách dinh dưỡng: theo nhóm mục tiêu hay phổ quát toàn dân.
Theo nhiều đại biểu, các chính sách hiện nay phần lớn tập trung hỗ trợ các nhóm đối tượng đặc thù, ví dụ phụ nữ mang thai ở vùng khó khăn hay trẻ em bị suy dinh dưỡng cấp tính. Cách làm này có ưu điểm là tập trung nguồn lực, phù hợp với điều kiện ngân sách còn hạn chế, tuy nhiên, nhược điểm là bỏ sót một bộ phận lớn dân cư không thuộc diện hỗ trợ nhưng vẫn có nguy cơ dinh dưỡng kém, từ đó ảnh hưởng đến tầm vóc, thể lực chung của cả thế hệ.
Quan điểm thứ hai, tiếp cận phổ quát toàn dân, cho rằng mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng dân số. Nếu chỉ “chữa cháy” cho một nhóm nhỏ thì không đủ để thay đổi toàn cục. Một số tính toán sơ bộ cho thấy, chi phí bổ sung vi chất cho phụ nữ mang thai theo hướng phổ quát vào khoảng vài trăm tỷ đồng mỗi năm – con số không nhỏ, nhưng được coi là khoản đầu tư sinh lợi cho tương lai khi giảm được gánh nặng y tế, nâng cao năng suất lao động.
Bên cạnh việc phân tích ưu, nhược điểm của hai phương án tiếp cận thì còn một bài toán khó đặt ra ở đây là sự cân bằng giữa lý tưởng và khả năng thực thi. Nếu luật chỉ khẳng định quyền được bổ sung dinh dưỡng của toàn dân, nhưng không nêu rõ lộ trình, cơ chế ngân sách và trách nhiệm chia sẻ giữa nhà nước – xã hội – gia đình, thì nguy cơ vẫn dừng lại ở khẩu hiệu. Do đó, dự án luật cần đi theo hướng: xác định nguyên tắc phổ quát, đồng thời quy định lộ trình thực hiện theo năng lực ngân sách, bảo đảm tính khả thi nhưng không bỏ qua tầm nhìn dài hạn.
Đề cập tới nội dung nguồn lực thực hiện dinh dưỡng học đường, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Hoàng Mai nhấn mạnh: “Không thể chỉ nói rằng Nhà nước có chính sách hỗ trợ dinh dưỡng học đường. Phải xác định rõ: hỗ trợ bằng hình thức nào, cho đối tượng nào, và nguồn lực từ đâu. Nếu không, chính sách sẽ khó đi vào cuộc sống.”
Để gỡ nút thắt về phương án đảm bảo nguồn lực thực hiện, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Thị Mai Hoa gợi ý: “Trong luật phải nêu nguyên tắc phổ quát: phụ nữ có thai phải được bổ sung vi chất dinh dưỡng… nhưng không có nghĩa là Nhà nước lo toàn bộ, mà huy động từ nhiều nguồn, trong đó ngân sách chỉ ưu tiên cho nhóm khó khăn.”
Nhiều ý kiến cũng đề nghị dự thảo luật cần tiếp cận dinh dưỡng học đường theo hướng toàn diện, không chỉ đảm bảo bữa ăn đủ no mà còn đủ chất, phù hợp độ tuổi. Đồng thời, cần có chính sách đặc thù cho trẻ em ở vùng khó khăn, trẻ suy dinh dưỡng, học sinh bán trú.
Truyền thông sức khỏe – “cầu nối” từ chính sách đến cộng đồng
Một chính sách dù hoàn thiện đến đâu cũng sẽ khó đi vào đời sống nếu thiếu công cụ truyền thông hiệu quả. Đó là lý do vấn đề truyền thông sức khỏe được nhiều đại biểu nhấn mạnh trong thảo luận. Theo nhiều đại biểu, truyền thông sức khỏe có vai trò kép: vừa nâng cao nhận thức cộng đồng, vừa chống lại thông tin sai lệch. Thực tế cho thấy, trong giai đoạn dịch Covid-19, truyền thông chính thống đóng vai trò quan trọng giúp người dân tuân thủ quy định phòng dịch. Ngược lại, những thông tin sai lệch về thuốc, vaccine, thực phẩm chức năng trên mạng xã hội đã gây ra không ít hệ lụy. “Truyền thông chăm sóc sức khỏe là loại hình rất đặc thù… Nếu truyền thông không đúng chuyên môn thì có thể gây hại. Ví dụ vitamin quá liều cũng thành thuốc độc. Do đó cần quy định rõ ai được phép làm truyền thông và trên nguyên tắc nào.” Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh nhấn mạnh.
Tuy nhiên, để truyền thông hiệu quả, cần làm rõ ai là chủ thể được phép tư vấn, hướng dẫn sức khỏe. Nếu không có hành lang pháp lý, bất kỳ ai cũng có thể đăng tải “bí quyết chữa bệnh” trên các nền tảng mạng xã hội, dẫn đến nguy cơ người dân tự ý làm theo và rơi vào tình trạng nguy hiểm. Vì vậy, luật cần xác định nguyên tắc: chỉ những cá nhân, tổ chức có chuyên môn y tế mới được phép cung cấp thông tin mang tính hướng dẫn; còn truyền thông đại chúng phải dựa trên cơ sở được kiểm chứng.
Ngoài ra, cơ chế xã hội hóa truyền thông sức khỏe cũng cần được tính đến. Nhà nước không thể bao phủ mọi kênh, nhưng có thể khuyến khích báo chí, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội cùng tham gia. Khi có khung pháp lý rõ ràng, các kênh truyền thông cộng đồng sẽ phát huy tác dụng tích cực, trở thành “cánh tay nối dài” đưa kiến thức y tế đến từng gia đình.
Quan trọng hơn, truyền thông không chỉ dừng lại ở việc phổ biến thông tin, mà phải trở thành một chính sách xuyên suốt trong công tác phòng bệnh. Từ việc giáo dục trẻ em, tư vấn dinh dưỡng, đến hỗ trợ sức khỏe tâm thần – tất cả đều cần đến truyền thông để lan tỏa, thay đổi hành vi và xây dựng một xã hội có ý thức phòng bệnh chủ động.
Qua phiên thảo luận, có thể thấy dự thảo Luật Phòng bệnh vẫn còn rất nhiều nội dung cần được tiếp thu và chỉnh lý để phù hợp với tình hình thực tế xã hội hiện nay. Việc luật hóa cụ thể, rõ ràng công tác phòng, chống bệnh không chỉ giúp khắc phục khoảng trống pháp lý, mà còn tạo nền tảng cho một xã hội khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần, góp phần đưa đất nước ngày càng phát triển trong kỷ nguyên mới của dân tộc.









Bình luận
Đăng nhập hoặc Tạo tài khoản để tham gia bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu