Kỷ Niệm 101 Năm Ngày Báo Chí Cách Mạng Việt Nam

Trẻ em thời hiện đại: Khi bệnh không còn chỉ nằm ở cơ thể

Khi những căn bệnh nhiễm trùng và suy dinh dưỡng dần được kiểm soát, một "gánh nặng" mới lại xuất hiện ở trẻ em: áp lực tinh thần. Từ stress, bạo lực học đường, bạo hành qua mạng đến sự so sánh thành tích và kỳ vọng của người lớn, nhiều vấn đề tưởng như vô hình đang ngày càng tác động mạnh đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ trong xã hội hiện đại.

Xoay quanh những vấn đề này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với PGS.TS.BS Trần Thanh Tú để lắng nghe những góc nhìn từ thực tiễn hơn 30 năm làm việc trong lĩnh vực Nhi khoa.

PGS.TS.BS Trần Thanh Tú là nguyên Giám đốc phụ trách Trung tâm Quốc tế, Trưởng khoa Nhi tổng quát 3, Bệnh viện Nhi Trung ương. Với hơn 30 năm làm việc trong ngành Nhi khoa, bà có nhiều quan sát về sự thay đổi trong mô hình bệnh tật, sức khỏe tinh thần và cách gia đình đồng hành với trẻ em hiện nay.

z7901230207877-6c3cc9bdaa69f6e55f2411d1df7b3c05
PGS.TS.BS Trần Thanh Tú chia sẻ với phóng viên về những thay đổi trong sức khỏe thể chất và tinh thần của trẻ em thời hiện đại (Ảnh: Khánh Chi)

Phóng viên: Thưa bà, từ kinh nghiệm hơn 30 năm làm Nhi khoa, bà nhận thấy mô hình bệnh tật và các vấn đề sức khỏe ở trẻ em hiện nay đã thay đổi như thế nào so với trước đây? Những nhóm bệnh từng chiếm tỷ lệ lớn hiện nay đã giảm ra sao?

PGS.TS.BS Trần Thanh Tú: Nếu nhìn từ kinh nghiệm hơn 30 năm làm nhi khoa, tôi cho rằng mô hình bệnh tật ở trẻ em hiện nay đã thay đổi rõ rệt, cùng với sự phát triển của xã hội hiện đại.

Trước đây, các vấn đề sức khỏe ở trẻ em chủ yếu là bệnh nhiễm trùng, bệnh liên quan đến dinh dưỡng, suy dinh dưỡng, sinh non hoặc các vấn đề sơ sinh. Những nhóm bệnh này chiếm tỷ lệ rất lớn, khoảng 80-90%. Hiện nay, mô hình đó đã thay đổi. Các bệnh liên quan đến nhiễm trùng, dinh dưỡng, sinh non và sơ sinh vẫn còn, nhưng chỉ còn khoảng hơn 50-60%.

Trong khi đó, khoảng 30% bệnh lý ở trẻ em hiện nay chuyển sang nhóm bệnh không liên quan đến nhiễm khuẩn. Đây có thể là các bệnh mạn tính, bệnh viêm không do nhiễm khuẩn, rối loạn chuyển hóa, rối loạn di truyền. Ví dụ, trước đây trẻ béo phì không nhiều như bây giờ, nhưng hiện nay béo phì đã chiếm tỷ lệ cao hơn. Một phần là do bệnh thực sự tăng lên, nhưng một phần khác cũng vì chúng ta có nhiều phương tiện chẩn đoán hơn, nên phát hiện được nhiều trường hợp rối loạn di truyền, rối loạn chuyển hóa hơn.

Bên cạnh đó, khoảng 8-10% các vấn đề sức khỏe ở trẻ em liên quan đến tai nạn, có thể là tai nạn sinh hoạt, tai nạn giao thông hoặc nhiều loại tai nạn khác. Như vậy, có thể thấy rõ nhóm bệnh không liên quan đến nhiễm khuẩn đang tăng lên và trở thành một gánh nặng thực sự của xã hội hiện đại.

Các bệnh nhiễm khuẩn, dinh dưỡng hay sơ sinh có thể được kiểm soát tốt hơn thông qua nhiều chương trình y tế, kế hoạch can thiệp và phối hợp điều trị. Nhưng các bệnh không liên quan đến nhiễm khuẩn, đặc biệt là các vấn đề về tâm bệnh, lại phức tạp hơn. Đây là những bệnh có thể không biểu hiện chủ yếu bằng tổn thương thể chất, mà thể hiện nhiều hơn qua tổn thương tinh thần.

Phóng viên: Bà vừa nhắc đến những vấn đề về sức khỏe tinh thần. Theo bà, sức khỏe tinh thần hiện nay đã trở thành một vấn đề đáng lo ngại ở trẻ em chưa? Nếu có, những áp lực đó đang đến từ đâu và khác gì so với trước đây? 

PGS.TS.BS Trần Thanh Tú: Ví dụ như stress, bạo lực học đường, bạo hành qua mạng. Đây là những vấn đề trước đây chưa rõ rệt như bây giờ. Ngày trước có thể cũng có bạo lực học đường, nhưng thường chỉ là đánh nhau trong một nhóm nhỏ. Còn hiện nay, với mạng xã hội, một đứa trẻ có thể vô tình trở thành nạn nhân của bạo hành qua mạng, dù bản thân nó không muốn tham gia vào câu chuyện đó.

Tôi cho rằng không chỉ những môi trường lớn, mà cả những môi trường rất nhỏ như trường học, nhóm bạn, diễn đàn nội bộ cũng có thể tạo ra tổn thương tinh thần cho trẻ.

Ví dụ, trong nhà trường hiện nay có những diễn đàn để học sinh bày tỏ quan điểm. Ban đầu, người ta có thể nghĩ đó là sự công bằng, là nơi để các em thể hiện bản thân. Nhưng đôi khi, những diễn đàn đó lại trở thành con dao hai lưỡi. Một đứa trẻ có thể bị khen, bị chê, bị thích hoặc bị ghét công khai trước rất nhiều người. Chính điều đó có thể quay trở lại và trở thành áp lực tinh thần đối với trẻ.

Vì vậy, không phải chỉ bố mẹ mới tạo áp lực tinh thần cho trẻ. Bản thân trẻ cũng có thể tự gây áp lực cho mình, bạn bè gây áp lực, và xã hội cũng tạo thêm áp lực.

Ngày trước, áp lực từ bố mẹ có thể chỉ là “phải học đi, không học thì sau này khổ”. Đó vẫn là câu chuyện trong gia đình. Nhưng bây giờ, mỗi kỳ thi, mỗi cuối năm học, trên mạng xã hội lại có rất nhiều người khoe thành tích của con. Người này khoe con đạt giải này, người kia khoe con đạt thành tích kia. Điều đó cũng tạo áp lực cho trẻ và cho cả gia đình.

Ở một số trường được coi là “quý tộc” hoặc có điều kiện, áp lực không chỉ nằm ở học giỏi. Ngoài học lực, trẻ còn bị so sánh về gia thế, sự sành điệu, cách giao tiếp, khả năng hòa nhập. Một đứa trẻ học giỏi nhưng không phù hợp với môi trường đó cũng có thể trở thành đối tượng bị công kích.

Tôi thấy điều đó rất đáng tiếc, vì đôi khi trẻ bị đặt vào một môi trường không phù hợp với mình.

500060556-717643477489740-2254253325482677626-n
PGS.TS Trần Thanh Tú trong một buổi sinh hoạt chuyên môn tại Bệnh viện Nhi Trung ương (Ảnh: Bệnh viện Nhi Trung ương)

Phóng viên: Bà nói áp lực đến từ nhiều phía, nhưng thực tế cha mẹ vẫn thường là người "đổ lỗi" đầu tiên khi trẻ gặp vấn đề tâm lý. Theo bà, điều đó có công bằng không? Và đâu là ranh giới giữa kỳ vọng chính đáng và áp lực gây hại?

PGS.TS.BS Trần Thanh Tú: Khi một người mẹ đưa ra quyết định nào đó cho con, tôi tin rằng phần lớn, khoảng 95-98%, đều xuất phát từ mong muốn điều tốt cho đứa trẻ. Không ai biết rõ điều đó là xấu mà vẫn cố tình làm cho con mình. Vấn đề là cách thực hiện có thể chưa phù hợp.

Tôi nghĩ mỗi đứa trẻ đều có một điểm sáng riêng. Nếu bố mẹ, thầy cô và những người xung quanh nhìn thấy điểm sáng đó, đứa trẻ sẽ có cơ hội phát triển. Nhưng nếu một đứa trẻ có năng khiếu hát mà cứ bị ép học toán, hoặc một đứa trẻ thích nhảy múa lại bị bắt ngồi làm bài tập theo khuôn mẫu quá chặt chẽ, thì điều đó có thể không phù hợp với bản chất của trẻ.

Một đứa trẻ có đầu óc bay bổng có thể khó tập trung vào những việc quá khuôn phép. Nếu định hướng sai, thay vì tạo ra một diễn viên tài giỏi, chúng ta có thể chỉ tạo ra một người làm việc không phù hợp với năng lực của mình.

Tôi cũng muốn nói thêm rằng, nhiều khi trẻ nói mình bị stress, bị áp lực bởi bố mẹ, thầy cô và mọi thứ xung quanh. Nhưng có khi nào trẻ nhìn lại và thấy rằng bố mẹ cũng đang chịu áp lực hay không?

Áp lực của bố mẹ đôi khi còn nặng nề hơn, bởi áp lực liên quan đến chính bản thân mình thì mình có thể tìm cách giải quyết, nhưng áp lực để thay đổi hoặc định hướng cho con là điều vô cùng khó khăn.

Ví dụ, sau một buổi họp phụ huynh, nhiều gia đình biến ngay thành một “cuộc họp học tập” ở nhà: môn này chưa được, môn kia còn hổng kiến thức, phải học thêm, phải bù đắp lỗ hổng cũ, phải chuẩn bị kiến thức mới.

Với những trẻ học tốt, đến mùa hè lại có hàng loạt kế hoạch: học kỳ quân đội, lớp kỹ năng, lớp trải nghiệm, thậm chí đi tu tập, thiền, học đạo lý. Nhưng không phải điều gì bố mẹ cho là tốt cũng chắc chắn là điều trẻ cần.

Phóng viên: Những áp lực đó đôi khi có thể biểu hiện qua cơ thể trẻ. Trong thực tế thăm khám, có khi nào các triệu chứng như đau bụng, đau đầu, mất ngủ hay thay đổi cảm xúc lại liên quan đến áp lực tâm lý không? Khi đó, cha mẹ cần quan sát con như thế nào?

PGS.TS.BS Trần Thanh Tú: Rất nhiều trẻ đến khám vì đau bụng, nhưng khi hỏi sâu hơn thì lại có câu chuyện không hài lòng với bố mẹ: bố mẹ bắt học nhiều quá, bắt ăn nhiều quá, kiểm soát giờ giấc quá.

Khi đó, tôi thường hỏi lại trẻ rằng: “Con thấy con bị áp lực từ mẹ, vậy con có thấy mẹ cũng đang bị áp lực vì con không?”. Tôi nghĩ vấn đề không phải lúc nào cũng là tìm xem ai có lỗi, mà là hai bên cần ngồi lại với nhau.

Khi trẻ có những biểu hiện như đau bụng, đau đầu, mất ngủ, thay đổi cảm xúc, giảm tập trung hoặc khó giao tiếp, cha mẹ cần quan sát kỹ hơn. Rất nhiều cha mẹ đưa con đến khám vì đau bụng và rất lo lắng, nhưng khi hỏi kỹ con đau như thế nào, đau bao lâu, đau có làm trẻ phải dừng việc đang làm hay không, thì bố mẹ lại không biết.

Nếu một đứa trẻ đang làm việc nó rất thích mà phải dừng lại vì đau, đó mới là dấu hiệu cần chú ý. Cha mẹ cũng cần quan sát tư thế của trẻ khi đau, ví dụ trẻ có co người lại để chống lại cơn đau hay không. Bên cạnh dấu hiệu chính, cần xem trẻ có thay đổi gì trong nếp sinh hoạt, ăn ngủ, cảm xúc hay hành vi không.

Tôi cho rằng các vấn đề hành vi ở trẻ thường thể hiện theo hai hướng. Một là thái quá: trẻ phản ứng mạnh, dễ kích thích, dễ bùng nổ. Hai là thu mình hoặc từ chối: trẻ từ chối sự chăm sóc, quan tâm, có biểu hiện trầm cảm hoặc giảm phản ứng với môi trường xung quanh.

Nếu là đau thực thể, cơn đau thường có thể xảy ra bất kỳ lúc nào, cả ngày lẫn đêm. Không thể chỉ ban ngày đau, còn ban đêm ngủ yên hoàn toàn. Vì vậy, cha mẹ cần quan sát kỹ tính chất của triệu chứng và các dấu hiệu đi kèm, thay vì chỉ nghe trẻ nói “con đau bụng” rồi quá lo lắng nhưng lại không nắm được chi tiết.

Các vấn đề tâm lý ở trẻ đôi khi rất trừu tượng. Ví dụ, trong một số nghiên cứu về trẻ bị viêm dạ dày tá tràng, tỷ lệ rối loạn trầm cảm, lo âu hoặc mất ngủ có thể lên tới khoảng gần 30%. Khi trẻ bị bệnh, lo âu hoặc trầm cảm có thể làm bệnh nặng hơn, rồi bệnh lại tiếp tục làm tâm lý tệ hơn, tạo thành một vòng xoắn bệnh lý. Tuy nhiên, nếu được can thiệp sớm, trẻ cũng có thể thoát ra khỏi vòng xoắn đó.

7ffa0909-b7eb-4e60-b967-3f61b7722613
PGS.TS Trần Thanh Tú thăm khám cho bệnh nhi (Ảnh: Tùng Đinh)

Phóng viên: Bà nhiều lần nhấn mạnh rằng điều trẻ cần không chỉ là điều trị hay các khóa học kỹ năng, mà còn là sự đồng hành từ gia đình. Theo bà, cha mẹ nên giao tiếp và đồng hành với con như thế nào trong bối cảnh cuộc sống hiện đại ngày càng bận rộn?

PGS.TS.BS Trần Thanh Tú: Theo tôi, việc hình thành tâm hồn, nhân cách, lòng hướng thiện hay kỷ luật cho trẻ không thể chỉ thông qua một khóa học một tháng. Đó phải là một chặng đường dài, bắt đầu từ khi trẻ còn rất nhỏ, thậm chí từ lúc còn nằm trong nôi. Cha mẹ cần tạo cho trẻ những thói quen tốt, cách giao tiếp tốt và cách hiểu đúng về thế giới xung quanh.

Tôi thấy có một điều chúng ta nên học ở cách giao tiếp với trẻ ở nước ngoài. Một em bé chưa đến một tuổi, trước khi đi khám, bố mẹ có thể nói với con rằng: “Ngày mai con sẽ đến bác sĩ. Bác sĩ sẽ giúp con khỏi ốm. Những điều bác sĩ làm là để tốt cho con”. Còn ở Việt Nam, nhiều khi người lớn lại dọa: “Không ăn là bác sĩ tiêm đấy”. Câu nói đó vô tình khiến trẻ hình thành tâm lý phản kháng và sợ hãi bác sĩ ngay từ đầu.

Tôi nghĩ những câu nói như “không ăn thì bác sĩ tiêm”, “để bác sĩ đánh cho” là những câu không nên dùng. Cách giáo dục trẻ cần chi tiết hơn, đơn giản hơn, nhưng phải đúng hơn. Nếu muốn trẻ có thói quen tốt, có tâm hồn tốt, thì không thể chỉ trông chờ vào một khóa học ngắn hạn. Đó là quá trình giáo dục lâu dài trong gia đình.

Tôi biết một người dù rất bận, vừa là bác sĩ, vừa làm lãnh đạo một trường đại học, nhưng vẫn duy trì một việc rất tốt: đúng 10 giờ đêm, khi con lên giường đi ngủ, anh ấy đọc truyện hoặc kể chuyện cho con khoảng 10 phút. Những câu chuyện đó có thể là truyện trong tủ sách trẻ em, về lòng biết ơn, sự lương thiện, hay những câu chuyện đơn giản như rùa và thỏ. Anh ấy duy trì việc đó đến tận khi con học hết cấp hai. Tôi cho rằng đó cũng là một cách giáo dục rất tốt, không cần phải lúc nào cũng ra lệnh “con phải làm cái này, con phải làm cái kia”.

Cách dạy con không chỉ nằm ở lời nói. Đôi khi, trẻ nhìn thấy hành vi của cha mẹ, nhìn thấy một tấm gương trong gia đình, cũng đã học được rất nhiều. Vì vậy, điều quan trọng là tăng sự giao tiếp trong gia đình. Hiện nay, nhiều gia đình tối về ăn cơm xong là mỗi người một phòng, mỗi người một thiết bị. Điều đó không tốt.

Theo tôi, trong gia đình nên có một không gian sinh hoạt chung, nơi mọi người có thể uống trà, uống nước, nói chuyện, chơi chung. Tôi không khuyến khích trẻ chơi điện tử quá nhiều, nhưng tôi cũng nghĩ không thể bắt trẻ hoàn toàn không biết gì về điện tử. Nếu cấm tuyệt đối, trẻ sẽ tìm cách dùng lén. Mà khi trẻ dùng lén, cha mẹ lại càng không biết con đang chơi gì, tiếp xúc với ai, gặp vấn đề gì.

Thay vì cấm hoàn toàn, cha mẹ nên có thời gian biểu rõ ràng với trẻ. Nhưng thời gian biểu đó cũng cần thực tế. Nhiều bố mẹ chỉ nói “hết một tiếng rồi, tắt máy đi”, nhưng bản thân bố mẹ cũng thích dùng điện thoại, thích chơi thiết bị. Tôi nghĩ cha mẹ có thể chơi cùng con, quan sát con chơi gì, hiểu con đang tiếp xúc với nội dung nào. Trong quá trình chơi cùng, cha mẹ mới có cơ hội nói chuyện và định hướng cho con.

Ở mỗi giai đoạn, trẻ cần một kiểu giao tiếp khác nhau. Khi trẻ còn nhỏ, cha mẹ có thể đóng vai trò hướng dẫn nhiều hơn. Nhưng khi trẻ lớn lên, đặc biệt ở tuổi tiền dậy thì và dậy thì, cha mẹ cần cố gắng làm bạn với con thì mới có thể hiểu và đồng hành được.

Phóng viên: Sau tất cả những thay đổi mà bà vừa chia sẻ, từ bệnh tật đến áp lực tinh thần, theo bà điều gì đang bị chúng ta bỏ quên nhiều nhất trong quá trình nuôi dạy trẻ hiện nay? 

PGS.TS.BS Trần Thanh Tú: Tôi cho rằng xã hội hiện nay đang chịu mức stress rất lớn. Một phần nguyên nhân là trẻ chưa được dạy đầy đủ cách kiểm soát nóng giận, kiểm soát cảm xúc và xử lý áp lực. Điều này liên quan đến cả giáo dục, y tế và gia đình.

Trẻ con bây giờ không giống thế hệ trước. Ngày trước, bố mẹ thường được xem là luôn đúng. Nhưng bây giờ, trẻ sẵn sàng nói bố mẹ sai. Tôi nghĩ điều đó không hẳn là xấu. Trẻ có thể tranh luận, có thể cãi, nhưng không được hỗn. Cha mẹ cũng cần phân biệt giữa thẳng thắn và vô lễ. Hai khái niệm này khác nhau, nhưng ranh giới trong hành vi đôi khi rất mỏng. Nếu không chú ý, chúng ta có thể biến trẻ thành người vô lễ; khi đó xã hội sẽ mất kỷ cương.

Tôi cũng nghĩ hiện nay chúng ta nói nhiều về quyền trẻ em, nhưng đôi khi lại ít nói đến nghĩa vụ của trẻ em. Trẻ có quyền lợi, nhưng trẻ cũng cần được dạy về trách nhiệm và nhiệm vụ của mình. Ngày trước, trẻ đi học chỉ nhớ “năm điều Bác Hồ dạy”, còn bây giờ trẻ được nói đến rất nhiều quyền: quyền được cái này, quyền được cái kia. Nhưng nếu chỉ nói quyền mà không dạy nghĩa vụ, trẻ có thể thiếu kỹ năng chịu đựng, thiếu khả năng thích nghi.

Cuộc sống không phải lúc nào cũng thuận lợi, không phải lúc nào cũng no đủ. Trẻ cần được dạy những kỹ năng cơ bản để sống, để tự lập, để biết phải làm gì khi gặp khó khăn. Kỹ năng sống không chỉ là cầm ly rượu thế nào hay giao tiếp trong những hoàn cảnh sang trọng, mà trước hết là những kỹ năng rất cơ bản để sống được, tự chăm sóc được bản thân và ứng phó được với thực tế.

Tôi nghĩ đó là những vấn đề chúng ta cần nhìn lại trong giáo dục trẻ hiện nay.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn PGS.TS.BS Trần Thanh Tú đã dành thời gian chia sẻ những góc nhìn sâu sắc và thực tiễn về sức khỏe trẻ em trong bối cảnh hiện nay!