Ngành dịch vụ chưa “bắt nhịp” kịp trong bối cảnh số
Phát biểu tại tọa đàm, ông Nguyễn Văn Dũng, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh, nhấn mạnh: “Trong nhiều năm qua, khu vực dịch vụ liên tục đóng vai trò là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế Thành phố, với tỷ trọng đóng góp chiếm từ 60% – 65% trong GRDP. Sau khi sáp nhập 03 địa phương, TP. Hồ Chí Minh sắp xếp đóng góp gần 25% GDP quốc gia, và 51% GRDP Thành phố đến từ khu vực và dịch vụ. Tuy nhiên, cơ cấu ngành dịch vụ vẫn thiên về các lĩnh vực truyền thống, trong khi các ngành dịch vụ cao cấp, hiện đại và có giá trị gia tăng cao chưa phát triển tương xứng với tiềm lực”.
Ông Nguyễn Văn Dũng, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh phát biểu tại tọa đàm.
Quá trình chuyển dịch các ngành dịch vụ có giá trị cao còn chậm so với khu vực mặc dù các ngành này hiện đang có sự tăng trưởng tốt và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong khu vực dịch vụ, nhưng vẫn chậm hơn so với các đối chuẩn quốc tế.
Với một số ngành dịch vụ chủ yếu của TP. Hồ chí Minh vẫn còn dựa trên cách thức hoạt động truyền thống, thiếu ứng dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại. Điều này dẫn đến giảm năng suất lao động, chất lượng dịch vụ chưa cao, khó cạnh tranh với các đối thủ trong khu vực và quốc tế. Sau khi sáp nhập, sự phát triển không đồng đều giữa các vùng cũng nổi lên như một thách thức lớn. Trong khi khu vực trung tâm TP. Hồ Chí Minh tập trung dịch vụ tài chính, thương mại, giáo dục và y tế, thì Bình Dương vẫn thiên về công nghiệp – logistics, còn Bà Rịa – Vũng Tàu dựa nhiều vào cảng biển, dầu khí và du lịch. Nếu thiếu cơ chế điều phối và chính sách phân bổ hợp lý, sự chênh lệch này có thể cản trở tiến trình hình thành cấu trúc dịch vụ đồng bộ, làm suy giảm hiệu quả cộng hưởng của việc mở rộng địa giới hành chính.
Dự báo đến năm 2035, đất nước sẽ chuyển sang “xã hội già hóa”, với hơn 20 triệu người cao tuổi, chiếm gần trên 14% tổng dân số. Tuy nhiên, người Việt Nam phải đối mặt với khoảng 10 năm sống chung với bệnh tật, trong đó các bệnh phổ biến như đột quỵ, viêm phổi và cao huyết áp đang tạo ra thách thức không nhỏ cho hệ thống y tế. Điều này đặt ngành y tế Việt Nam, đặc biệt là các bệnh viện tuyến trung ương lớn tại TP. HCM, trước áp lực lớn trong việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng phức tạp của dân số già hóa.
Cùng với sự già hóa dân số, sự gia tăng mạnh mẽ của tầng lớp trung Lưu tại Việt Nam cũng đang thúc đẩy nhu cầu chi tiêu cho y tế. Việt Nam đang chuẩn bị một nền tảng vững chắc để đáp ứng những thách thức và cơ hội trong lĩnh vực y tế, từ việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cho đến việc mở rộng các cơ sở y tế và đầu tư vào công nghệ y tế tiên tiến, nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng cao của người dân và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Hướng đi “táo bạo” của ngành dịch vụ Y tế
Trao đổi về giải pháp đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân trong nước lẫn quốc tế, ông Nguyễn Văn Dũng, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh, khẳng định: “TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu trở thành đô thị phát triển ngang tầm các thành phố lớn trên thế giới, tiến tới ngang tầm Châu Á đóng vai trò dẫn dắt nền kinh tế số, kinh tế tri thức, phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Thúc đẩy dịch vụ y tế cao cấp, phục vụ không chỉ cho người dân trong nước mà còn hướng đến khách hàng quốc tế”.
Phát triển đồng bộ hệ thống y tế dự phòng, củng cố và phát triển y tế cơ sở, nâng cao năng lực mạng lưới cấp cứu ngoài bệnh viện theo hướng chuyên nghiệp. Hình thành trung tâm kiểm soát bệnh tật vùng gắn với Viện Pasteur TP. Hồ Chí Mnh để đảm nhận vai trò kết nối và hỗ trợ các trung tâm kiểm soát bệnh tật các tỉnh lân cận.
Quang cảnh buổi làm việc bàn về chủ đề “TP. Hồ Chí Minh – Trung tâm dịch vụ lớn của cả nước và khu vực với các ngành dịch vụ cao cấp, hiện đại, có giá trị gia tăng cao: Định hướng và giải pháp đột phá”.
Tập trung đầu tư vào thiết lập hồ sơ sức khỏe điện tử cho mỗi người dân, đảm bảo kết nối liên thông với các cơ sở dữ liệu lớn của Thành phố và tuân thủ khung kiến trúc chính quyền điện tử. Người dân dễ dàng truy cập và quản lý thông tin sức khỏe cá nhân mọi lúc, mọi nơi. Ngoài ra, việc tạo các hệ thống quản lý sức khỏe cá nhân thông qua các ứng dụng di động và thiết bị đeo giúp người dân tự theo dõi và quản lý sức khỏe của mình, từ đó nâng cao nhận thức và chất lượng chăm sóc sức khỏe cá nhân.
Thúc đẩy việc xây dựng và triển khai thêm các mạng lưới chăm sóc theo chuyên khoa khác (Ung thư, Đột quỵ,...) từ bệnh viện tuyến cuối đến y tế cơ sở là một yêu cầu cấp bách nhằm đảm bảo tính liên tục, chi phí hiệu quả và giảm tải công việc chuyên khoa, đồng thời tránh đầu tư trùng lắp các trang thiết bị đắt tiền gây lãng phí. Đầu tư hệ thống hỗ trợ chẩn đoán và điều trị từ xa (telemedicine) cho phép bệnh nhân tiếp cận dịch vụ y tế từ xa, nâng cao khả năng chăm sóc và tư vấn sức khỏe.
Đồng thời, áp dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (big data) trong chẩn đoán và phân tích sức khỏe cộng đồng nhằm tăng khả năng dự báo và xử lý các vấn đề liên quan đến y tế, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng. Chú trọng đào tạo về kỹ năng công nghệ thông tin, chuyển đổi số cho nhân lực y tế để đảm bảo sự thành công của quá trình chuyển đổi. Xây dựng quy trình số hóa, từ quy trình làm việc đến quy trình khám chữa bệnh trên nền tảng số.
Bên cạnh đó, củng cố mô hình phối hợp Viện - Trường để đảm bảo chất lượng đào tạo, cung cấp và đáp ứng nguồn nhân lực y tế chất lượng cao cho Ngành Y tế. Chú trọng củng cố quy chế phối hợp giữa các trường Đại học Y khoa và các bệnh viện thực hành, nâng cao chất lượng đào tạo thực hành, đầu tư phát triển các dịch vụ y tế chất lượng cao tại các viện - trường, tạo điều kiện cho sinh viên và học viên cao học của các trường Đại học Y khoa tham gia thực tập và quan sát tại các bệnh viện. Nâng cấp, chuẩn hóa cơ sở hạ tầng của tất cả các Trạm y tế phường, xã hoạt động theo nguyên lý Y học gia đình.
Đến năm 2030, hình thành và phát triển Khu công nghiệp chuyên ngành Y - Dược TP. HCM để sản xuất các thuốc phát minh, chuyển giao công nghệ, thuốc chuyên khoa đặc trị, thuốc generic dạng bào chế công nghệ cao, vắc xin, sinh phẩm, các trang thiết bị xét nghiệm, sản phẩm y sinh kỹ thuật cao phục vụ được nhu cầu trong chẩn đoán và điều trị tại các cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn và trong nước tiến tới xuất khẩu sang các nước trong khu vực.
Đặc biệt, xây dựng mạng lưới chăm sóc chuyên khoa theo quy mô vùng phải tương ứng với 3 cấp độ chăm sóc bao gồm: cấp chăm sóc ban đầu (y tế cộng đồng), cấp cơ bản (bệnh viện tuyến huyện), cấp chuyên sâu (bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến tỉnh). Đảm bảo huy động các nguồn lực nhưng tránh trùng lắp gây lãng phí (nhất là các trang thiết bị chuyên sâu).
Trương Quang









Bình luận
Đăng nhập hoặc Tạo tài khoản để tham gia bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu