Kỷ Niệm 101 Năm Ngày Báo Chí Cách Mạng Việt Nam

Phòng ngừa bệnh truyền nhiễm mùa mưa bão bằng y học cổ truyền

Trong và sau mưa bão, lũ lụt, vô số các vi sinh vật, chất thải, rác bẩn… theo dòng nước lan tràn ra nhiều nơi, gây ô nhiễm môi trường và tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh. Những bệnh truyền nhiễm phổ biến trong mùa mưa lũ như: Tả, lỵ, thương hàn, tiêu chảy, đau mắt đỏ, sốt xuất huyết, viêm da, cảm cúm, viêm đường hô hấp…

Thiên tai bao gồm bão, mưa, lũ lụt, lũ quét… gây ra rất nhiều thiệt hại về người và tài sản cho người dân. Trong khi phải chiến đấu với những điều kiện thiên nhiên tàn khốc này, chúng ta cũng có thể bị ảnh hưởng lớn đến sức khỏe. Tiếp xúc với những tác nhân gây bệnh có trong dòng nước lũ khiến chúng ta có thể mắc các bệnh truyền nhiễm như: Tả, lỵ, thương hàn, tiêu chảy, đau mắt đỏ, sốt xuất huyết, viêm da, cảm cúm, viêm đường hô hấp…

Trong và sau mưa bão, lũ lụt, vô số các vi sinh vật, chất thải, rác bẩn… theo dòng nước lan tràn ra nhiều nơi, gây ô nhiễm môi trường và tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh
Trong và sau mưa bão, lũ lụt, vô số các vi sinh vật, chất thải, rác bẩn… theo dòng nước lan tràn ra nhiều nơi, gây ô nhiễm môi trường và tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh

Phòng bệnh dịch mùa mưa lũ

Chúng ta cần chủ động các biện pháp đảm bảo vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm sau những ngày mưa lũ.

Người dân cần thực hiện những biện pháp phòng chống bệnh dịch mùa mưa lũ sau đây:

Vệ sinh môi trường

Cần thiết phải thực hiện các hoạt động vệ sinh môi trường sau mưa lớn, lũ lụt, đảm bảo nước rút đến đâu làm vệ sinh môi trường đến đó. Cần thu gom và sử dụng vôi bột hoặc các hóa chất để xử lý khi chôn xác động vật tránh phát sinh dịch bệnh truyền nhiễm; phun hóa chất diệt côn trùng truyền bệnh tại các vùng có nguy cơ.

Người dân cần chủ động đảm bảo vệ sinh môi trường quanh khu vực mình sinh sống. Dọn dẹp tàn dư của bão lũ, rửa trôi bùn đất, gom và xử lý rác bẩn. Cần thau rửa và khử trùng bể nước, giếng nước, nước sinh hoạt theo hướng dẫn của nhân viên y tế tại địa phương.

Nhà cửa, nơi làm việc sau khi dọn dẹp sạch sẽ cần xông thảo dược để khử ẩm thấp, vi sinh vật, mùi hôi. Sử dụng các loại thảo dược thơm như bồ kết, quế, hồi, sả, bạch chỉ, đinh hương, vỏ bưởi… để đốt hoặc đun nước xông. Để tiện ích hơn có thể dùng nụ trầm, tinh dầu để xông nhà.

Vệ sinh cá nhân

Trước hết cần đảm bảo an toàn tính mạng, tránh bão lũ ở nơi an toàn. Sau khi cơn bão đi qua hay nước lũ đã rút, cần phải vệ sinh cá nhân sạch sẽ. Thau rửa, khử trùng nước sinh hoạt, tắm rửa sạch sẽ. Quần áo, chăn gối, đụng cụ vệ sinh cá nhân bị ngập không thể làm sạch nên loại bỏ đi.

Vệ sinh, an toàn thực phẩm

Trong cơn bão lũ cũng như sau khi bão lũ đi qua, việc đảm bảo được lương thực, thực phẩm cũng là điều hết sức khó khăn, đặc biệt là những nơi bị cô lập, ở vùng sâu vùng xa. Tuy nhiên, cần cố gắng đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm để phòng các bệnh lây nhiễm đường tiêu hóa.

Thực hiện thau rửa bể nước, giếng nước, dụng cụ chứa nước và dùng những hóa chất để khử trùng nước sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt.

Thực hiện ăn chín uống sôi, bảo đảm an toàn thực phẩm, thường xuyên rửa tay với xà phòng.

Ngoài việc đảm bảo vệ sinh, cần kịp thời phát hiện và dập tắt bệnh dịch truyền nhiễm như: Tả, lỵ, thương hàn, tiêu chảy, đau mắt đỏ, sốt xuất huyết, viêm da, cảm cúm, viêm đường hô hấp…

Không chỉ phòng các bệnh truyền nhiễm, trong mùa mưa, bão, lũ chúng ta cũng cần phải phòng chống các vấn đề về sức khỏe khác như chấn thương, đuối nước, điện giật, rắn rết cắn…

Cần thiết phải thực hiện các hoạt động vệ sinh môi trường sau mưa lớn, lũ lụt, đảm bảo nước rút đến đâu làm vệ sinh môi trường đến đó
Cần thiết phải thực hiện các hoạt động vệ sinh môi trường sau mưa lớn, lũ lụt, đảm bảo nước rút đến đâu làm vệ sinh môi trường đến đó

Chống lại bệnh dịch theo y học cổ truyền

Các bệnh đường tiêu hóa

Bệnh tiêu hóa liên quan đến mưa lũ thường là tiêu chảy do các tác nhân hàn, nhiệt, thấp, độc. Theo y học cổ truyền, tiêu chảy thuộc chứng tiết tả.

Tiêu chảy do hàn thấp

Nguyên nhân thường do nhiễm lạnh. Gió, bão, mưa, lụt có thể gây nhiễm lạnh nếu tiếp xúc, dẫn đến tiêu chảy.

Triệu chứng: Đau đầu, đau người, đau bụng, sôi bụng, tiêu chảy, sợ gió, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng dày, tiểu tiện ít, mạch nhu hoãn hoặc phù hoãn.

Pháp điều trị: Giải biểu, tán hàn, ôn trung, táo thấp, phương hương hóa trọc.

Phương thuốc:

  • Bài 1: Sa nhân 8g, rau má sao 10g, hoắc hương 8g, hương phụ 8g, bạch biển đậu 12g, xa tiền tử 8g, gừng 2g. Sắc uống ngày 1 thang.
  • Bài 2: Hoắc hương 12g, sa nhân 8g, nam mộc hương 8g, trần bì 8g, nam hậu phác 10g, hương phụ 8g, hạt vải 8g. Sắc uống ngày 1 thang.
  • Bài 3: Hoắc hương 40g, hậu phác 12g, tô diệp 10g, trần bì 6g, cát cánh 10g, gừng 4g, bạch chỉ 10g, đại táo 12g, đại phúc bì 12g, bạch truật 10g, phục linh 8g, bán hạ chế 6g, cam thảo 6g. Tán bột, ngày uống 16 – 20g.

Châm cứu: Châm tả các huyệt thiên khu, trung quản, hợp cốc, túc tam lý.

Tiêu chảy do thấp nhiệt

Nguyên nhân do nhiễm trùng các vi sinh vật.

Triệu chứng: Đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy nhiều lần, phân sống có mùi khó chịu, rát hậu môn, rêu lười vàng dày, tiểu tiện ít đỏ, mạch sác.

Pháp điều trị: Thanh nhiệt hóa thấp, phương hương quá trọc.

Phương thuốc:

  • Bài 1: Bạch biển đậu 20g, sa nhân 12g, thảo quả 12g, ô mai 12g, cát căn 12g, cam thảo 6g. Tán bột, làm thành viên, mỗi ngày uống 20g với nước chè đặc.
  • Bài 2: Cát căn 12g, kim ngân hoa 12g, mã đề 10g, rau má sao 12g, cam thảo dây 10g, hậu phác 12g, hoàng liên 10g. Sắc uống ngày 1 thang.
  • Bài 3 (Cát căn cầm liên thang gia giảm): Cát căn 12g, hoàng liên 8g, hoàng cầm 12g, nhân trần 20g, kim ngân hoa 16g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Châm cứu: Châm tả các huyệt thiên khu, trung quản, hợp cốc, túc tam lý, nội đình, âm lăng tuyền.

Kiết lỵ cấp tính do thấp nhiệt

Nguyên nhân do nhiễm amip cấp tính, phân có nhày máu nên gọi là xích bạch lỵ.

Triệu chứng: Đau quặn bụng, mót rặn, đại tiện ra nhày máu, sốt, sợ lạnh, mạch hoạt sác hoặc nhu sác, miệng khô đắng dính, tiểu tiện ngắn đỏ.

Pháp điều trị: Thanh nhiệt táo thấp, hành khí hoạt huyết.

Phương thuốc:

  • Bài 1 (Viên khổ luyện đại hoàng): Khổ luyện tử 20g, hoàng liên gai 20g, hạt dưa hấu 20g, bồ kết 20g, binh lang 20g, đại hoàng 20g. Tán bột, ngày uống 20g chia 2 lần.
  • Bài 2: Hoàng cầm 12g, hoàng liên 12g, bạch thược 8g, đương quy 8g, mộc hương 6g, binh lang 6g, cam thảo 6g, đại hoàng 4g. Sắc uống ngày 1 thang

Châm cứu: Châm tả các huyệt trung quản, thiên khu, đại hoành, đại trường du, túc tam lý, hợp cốc, phục lưu, nội đình, công tôn.

Kiết lỵ do hàn thấp

Lỵ amip bán cấp, phân nhiều chất nhày, ít máu, gọi là bạch lỵ.

Triệu chứng: Đại tiện ra nhày nhiều, máu ít, bụng đau liên miên, mót rặn, rêu lưỡi trắng dày, mạch nhu hoãn.

Pháp điều trị: Ôn trung hóa thấp, kiện tỳ, hành khí

Phương thuốc:

  • Bất hoàn kim chính thang: Hậu phác 6g, trần bì 6g, mộc hương 6g, sa nhân 6g, hoắc hương 8g, nhục quế 4g, thương truật 12g, bán hạ chế 8g, đại táo 12g, gừng 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

Châm cứu: Châm bổ các huyệt thiên khu, trung quản, đại hoành, tỳ du, túc tam lý, tam âm giao.

Kiết lỵ do dịch độc

Lỵ do trực trùng. Đại tiện ra máu nhiều, gọi là xích lỵ.

Triệu chứng: Phát ra đột ngột, cấp tính, đại tiện ra máu nhiều, sốt cao, vật vã, rêu lưỡi vàng dày, chất lưỡi đỏ, mạch tế sác. Nếu nặng có thể hôn mê, co giật, trụy mạch.

Pháp điều trị: Thanh nhiệt giải độc. Nếu nặng cần phải cấp cứu theo y học hiện đại.

Phương thuốc:

  • Bài 1: Rau sam 400g, hạt cau 400g, lá mơ lông 100g, củ phượng vĩ 100g, cỏ sữa lá nhỏ 400g. Tán bột, dùng 20g mỗi ngày.
  • Bài 2: Phèn đen 20g, nam mộc hương 10g, củ phượng vĩ 20g. Sao đen, sắc đặc, uống ngày 1 thang.
  • Bài 3: Cỏ nhọ nồi 50g, chỉ xác 20g, rau sam 40g, hạt cau 20g, trắc bách diệp 20g, nam mộc hương 20g, hoa hòe 20g. Tán bột, ngày dùng 20g uống với nước vối.
  • Bài 4 (Bạch đầu ông thang gia giảm): Bạch đầu ông 40g, trần bì 12g, hoàng liên 4g, hoàng bá 12g, đan bì 12g, kim ngân hoa 12g, địa du 20g, xích thược 12g, chỉ xác 8g, mộc hương 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Châm cứu: Châm tả các huyệt khúc trì, hợp cốc, thượng cự hư, túc tam lý, nội đình, đại hoành.

Các bệnh cảm mạo, hô hấp

Phong hàn

Các bệnh thường gặp như viêm phế quản, hen phế quản, viêm thanh quản, viêm mũi dị ứng…

Triệu chứng: Ho, khò khè, đàm trắng, miệng không khát, chảy nước mũi, ngạt mũi, sợ lạnh, phát sốt, rêu lưỡi mỏng, mạch phù.

Pháp điều trị: Phát tán phong hàn (tuyên phế tán hàn).

Phương thuốc:

  • Bài 1 (Hạnh tô tán): Hạnh nhân 12g, bán hạ chế 6g, bạch linh 12g, chỉ xác 8g, tô diệp 8g, tiền hồ 8g, cát cánh 12g, quất bì 8g, cam thảo 4g, đại táo 12g, gừng tươi 3 lát. Sắc uống ngày 1 thang.
  • Bài 2: Tía tô 12g, lá hẹ 10g, kinh giới 10g, trần bì 6g, xuyên khung 6g, bạch chỉ 8g, rễ chỉ thiên8g. Sắc uống ngày 1 thang.
  • Bài 3 (Chỉ khái tán): Hạnh nhân 12g, cát cánh 8g, tiền hồ 12g, tử uyển 12g, cam thảo 4g. Đờm nhiều, rêu lưỡi trắng gia thêm bán hạ chế 12g, trần bì 8g. Hen suyễn bỏ cát cánh, thêm ma hoàng 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Châm cứu: Châm tả các huyệt phong môn, hợp cốc, khúc trì, ngoại quan, xích trạch, thái uyên.

Phong nhiệt

Triệu chứng: Ho, miệng khát, họng đau, đờm vàng, sốt ra mồ hôi, nước mũi đặc, chất lưỡi đỏ, mạch phù sác.

Pháp điều trị: Phát tán phong nhiệt (Thanh nhiệt tuyên phế)

Phương thuốc:

  • Bài 1: Tang diệp 16g, rễ cây chanh 8g, tang bạch bì 12g, bán hạ chế 6g, bạc hà 8g, cúc hoa 8g, rau má 12g, xạ can 4g, lá hẹ 8g, rễ chỉ thiên 8g. Sắc uống ngày 1 thang.
  • Bài 2 (Tang hạnh thang gia giảm): Tang diệp 12g, hạnh nhân 8g, bối mẫu 4g, sa sâm 8g, chi tử 8g, tiền hồ 8g, tang bạch bì 8g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.
  • Bài 3 (Tang cúc ẩm gia giảm): Tang diệp 12g, cúc hoa 12g, liên kiều 12g, bạc hà 6g, ngưu bàng tử 12g, cát cánh 8g, hạnh nhân 12g, tiền hồ 12g, cam thảo 4g. Nếu đờm nhiều vàng dính, sốt cao bỏ tang diệp, cúc hoa, bạc hà, ngưu bàng; gia hoàng cầm 12g, ngư tinh thảo 20g. Sắc uống ngày 1 thang.
  • Bài 4: Kim ngân hoa 20g, sài đất 20g, bồ công anh 20g, kinh giới 16g, tang bạch bì 20g, hạnh nhân 8g, cỏ mần trầu 16g, trúc nhự 8g. Sắc uống ngày 1 thang.
  • Bài 5 (Ngân kiều tán gia giảm): Kim ngân hoa 16g, liên kiều 16g, ngưu bàng tử 12g, cát cánh 8g, tiền hồ 8g, đậu xị 12g, bạc hà 12g, bối mẫu 6g. Nếu sốt, sợ lạnh thêm kinh giới 8g; đau ngực thêm bạch thược 8g, uất kim 8g; sốt cao thêm hoàng cầm 12g, chi tử 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Châm cứu: Châm tả các huyệt trung phủ, thiên đột, phế du, phong môn, hợp cốc, ngoại quan, xích trạch, liệt khuyết.

Khí táo

Triệu chứng: Ho khan, ít đờm, mũi khô, họng khô, sốt, đau đầu, đau người, lưỡi đỏ khô, mạch phù sác.

Pháp điều trị: Thanh phế nhuận táo.

  • Bài 1: Tang bạch bì 12g, mạch môn 12g, trúc diệp 12g, lá hẹ 8g, sa sâm 12g, thạch cao 16g, thiên môn 12g, hoài sơn 12g. Sắc uống ngày 1 thang.
  • Bài 2 (Thanh táo cứu phế thang gia giảm): Tang diệp 12g, thạch cao 12g, cam thảo 16g, mạch môn 12g, tỳ bà diệp 12g, hạnh nhân 8g, gừng 4g, a giao 8g, đảng sâm 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Châm cứu: Châm các huyệt trung phủ, phế du, xích trạch, thái uyên, hợp cốc, khúc trì.

Khi bệnh mới cảm nhiễm, cần điều trị sớm để tránh tà khi vào sâu trong tạng phủ dẫn đến nặng hơn, lâu ngày khiến cho công năng tạng phủ suy giảm, trở nên mạn tính (hư chứng). Người bệnh cần được thăm khám để xác định rõ thể bệnh, chứng bệnh, từ đó sẽ có pháp, phương điều trị phù hợp.

Những bệnh truyền nhiễm phổ biến trong mùa mưa lũ như: Tả, lỵ, thương hàn, tiêu chảy, đau mắt đỏ, sốt xuất huyết, viêm da, cảm cúm, viêm đường hô hấp…
Những bệnh truyền nhiễm phổ biến trong mùa mưa lũ như: Tả, lỵ, thương hàn, tiêu chảy, đau mắt đỏ, sốt xuất huyết, viêm da, cảm cúm, viêm đường hô hấp…

Bệnh ngoài da

Bệnh ngoài da thường gặp mùa mưa lũ như viêm da cơ địa, viêm da tiếp xúc, dị ứng, mụn nhọt…

Căn cứ vào các triệu chứng, có thể chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh và cách chữa các bệnh ngoài da có thể gặp mùa mưa lũ như sau:

  • Ngứa phần nhiều do phong gây ra: Thường dùng các thuốc trừ phong như Kinh giới, phòng phong, bạc hà, ngưu bàng tử, cương tàm, toàn yết, ké đầu ngựa, uy linh tiên...
  • Da đỏ, nóng rát thường do nhiệt hay hoá gây ra, được dùng các thuốc thanh nhiệt để chữa. Nếu do nhiễm trùng gây mủ thì dùng các thuốc thanh nhiệt giải độc: Kim ngân, bồ công anh, sài đất, liên kiều... Nếu do viêm nhiễm không sinh mủ thì dùng các thuốc thanh nhiệt tả hoả như: Thạch cao, chi tử, lá tre... Nếu da đỏ và nóng rát thì dùng các thuốc thanh nhiệt lương huyết như: Sinh địa, huyền sâm, địa cốt bì...
  • Ngoài ra có các nốt phỏng nước, phù nề, thấm dịch chảy nước vàng... dùng các thuốc thanh nhiệt táo thấp có tính vị đắng lạnh như: Hoàng bá, khổ sâm, hoàng liên... phối hợp với các thuốc thanh nhiệt, lợi thấp như: Xa tiền tử, hoạt thạch, nhân trần... để chữa.
  • Nếu da khô, nứt nẻ, dày da, tróc vảy, lông tóc khô rụng... thường đo huyết táo gây ra, được dùng các thuốc dưỡng huyết nhuận táo để chữa như: Bạch thược, sinh địa, hà thủ ô, cỏ nhọ nồi...
  • Nếu có ban chẩn, nổi cục, ứ huyết ở đa, thường do huyết ứ sinh ra, dùng các thuốc hoạt huyết để chữa như: Đan sâm, tạo giác thích, đào nhân...

Trên thực tế lâm sàng, các triệu chứng hay xuất hiện cùng một lúc với nhau như chảy nước vàng (do thấp nhiệt), ngứa sưng đau (do phong và huyết ứ) là do các nguyên nhân kết hợp với nhau gây bệnh như phong thấp nhiệt, huyết ứ… khi chữa phải phối hợp các phương pháp và các thuốc chữa bệnh với nhau, cho phù hợp với bệnh cảnh lâm sàng.

Ngoài thuốc uống bên trong, các dạng thuốc dùng ngoài da của y học cổ truyền rất phong phú, bao gồm:

Thuốc bột: Gồm các vị thuốc sát trùng, thu sáp, chống viêm, chống ngứa như hoạt thạch, thanh đại, phèn phi...

Thuốc nước: Dùng để băng rửa vết thương có tác dụng tiêu viêm trừ mủ, thu sáp... như nước lá xoan, nước xà sàng tử, nước lá nhội...

Thuốc ngâm rượu: Có tác dụng tiêu độc, chống ngứa, chống ứ huyết ở cục bộ như rượu, thuốc xà sàng tử, tô mộc, long não…

Thuốc mỡ: Thuốc để sát trùng tiêu độc, làm mềm da, gồm các vị thuốc thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm, nhuận táo, như hoàng liên, gấc, hạt bí, nghệ, tử thảo…

Cao dán: Cao lá mềm băng và dán vào tổn thương ở mặt da.

Thuốc ngâm: Thuốc để ngâm tắm toàn thân hoặc ngâm vùng bị bệnh (chân, tay), sử dụng các vị thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm như sài đất, kim ngân, tía tô, thương nhĩ tử, bồ công anh, tràm gió, hương nhu…

Tiến sĩ - Lương y Phùng Tuấn Giang

Chủ tịch Viện nghiên cứu phát triển y dược cổ truyền Việt Nam