Kỷ Niệm 50 năm ngày thành phố Sài Gòn - Gia Định vinh dự mang tên Chủ Tịch Hồ Chí Minh

Vai trò lãnh đạo của Đảng - Nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là kết quả của rất nhiều yếu tố khách quan, chủ quan, trong đó nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi đó là vai trò lãnh đạo, chuẩn bị của Đảng Cộng sản Đông Dương đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh suốt 15 năm kể từ khi thành lập 1930 - 1945.

gen-n-vaitro

Khi đánh giá về thắng lợi của cách mạng tháng 8/1945 ở Việt Nam, một số luận điểm xuyên tạc cho rằng, sau khi phát xít Nhật đầu hàng, lực lượng quân Đồng minh chưa kịp vào Đông Dương để giải giáp quân Nhật, do đó xuất hiện “một khoảng trống quyền lực”, nhờ vậy mà dân tộc Việt Nam có thể giành độc lập một cách dễ dàng, không đổ máu và đó là một sự “ăn may”.

Tuy nhiên, thực tiễn cách mạng Việt Nam đã cho thấy, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là kết quả của rất nhiều yếu tố khách quan, chủ quan, trong đó nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi đó là vai trò lãnh đạo, chuẩn bị của Đảng Cộng sản Đông Dương đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh suốt 15 năm kể từ khi thành lập 1930 - 1945.

Đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, thường xuyên bổ sung và phát triển trước yêu cầu mới của thực tiễn cách mạng

Tháng 2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đề ra đường lối cách mạng giải phóng dân tộc: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(1), đồng thời xác định nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam là dân tộc giải phóng: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”(2), chủ trương tập hợp tất cả các giai cấp, tầng lớp nhân dân với nòng cốt là liên minh công nông, đoàn kết với cách mạng vô sản thế giới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đường lối của Đảng không ngừng được bổ sung, hoàn chỉnh qua thực tiễn cách mạng Việt Nam trong suốt 15 năm 1930 – 1945 thông qua các Hội nghị Trung ương Đảng, đặc biệt từ Hội nghị Trung ương lần thứ 6 tháng 11/1939: “Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không có con đường nào khác hơn là đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập”(3). Hội nghị Trung ương lần thứ 8 tháng 5/1941 tiếp tục khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của gia cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Đó là nhiệm vụ của Đảng ta trong vấn đề dân tộc”(4). Đồng thời Đảng ta cũng nhấn mạnh: “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang”, nhưng không được chủ quan duy ý chí mà phải kiên trì chuẩn bị các điều kiện cần thiết, sáng tạo trên cơ sở tình hình thực tiễn để “khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa”.

Ngay sau khi phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp để độc chiếm Đông Dương ngày 9/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng tại Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) ngay lập tức ra bản chỉ thị lịch sử “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, phát động cao trào kháng Nhật cứu nước, tạo tiền đề quan trọng cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền sau này.

t1 1

Ngày 19-8-1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam giành chính quyền tại Phủ Khâm sai Bắc Kỳ (Hà Nội). Ảnh tư liệu

Coi trọng xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc

 Năm 1927, trong tác phẩm Đường Kách Mệnh lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định vai trò của quần chúng Nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc: “cách mạng là việc chung của cả dân chúng chứ không phải là việc một hai người”. Từ nhận thức đó, trong quá trình vận động thành lập Đảng và sau khi Đảng ra đời, Đảng ta đã thường xuyên nhấn mạnh vai trò, không ngừng quan tâm đến công tác xây dựng lực lượng chính trị quần chúng. Cương lĩnh chính trị đầu tiên tháng 2/1930 chỉ rõ: Đảng “phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình... phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày,... hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông,...”. Thực hiện chủ trương đó, trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Đảng đã động viên, tổ chức và đoàn kết lực lượng toàn dân trong Mặt trận dân tộc thống nhất và lựa chọn hình thức tổ chức Mặt trận Việt Minh. Mặt trận được xây dựng trên một hệ thống tổ chức chặt chẽ và bao gồm các đoàn thể cứu quốc. Ðảng lãnh đạo Mặt trận bằng cách đưa quan điểm, chính sách vào các đoàn thể và hoạt động của Mặt trận và thông qua các đảng viên tham gia Mặt trận và đoàn thể. Nhờ vậy, trong suốt 15 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng đã huy động được lực lượng chính trị quần chúng rộng lớn bao gồm mọi tầng lớp nhân dân yêu nước, đoàn kết đồng lòng, quy tụ sức mạnh của hơn 20 triệu đồng bào tiến hành tổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công.

Bên cạnh đó, công tác xây dựng lực lượng vũ trang, khởi nghĩa vũ trang và xây dựng căn cứ địa cách mạng cũng được Đảng ta đặc biệt quan tâm. Cùng với việc xây dựng lực lượng chính trị, Đảng khẳng định vai trò và từng bước xây dựng lực lượng vũ trang chuẩn bị cho cách mạng sau này. Trong Luận Cương chính trị tháng 10/1930, Đảng đã nêu rõ phải ra sức chuẩn bị cho quần chúng về con đường “võ trang bạo động”. Võ trang bạo động để giành chính quyền là một nghệ thuật, “phải tuân theo khuôn phép nhà binh”.

Sau khởi nghĩa Bắc Sơn (27/9/1940), Đảng chủ trương phát triển lực lượng vũ trang từ đội du kích Bắc Sơn, xây dựng căn cứ địa Bắc Sơn – Vũ Nhai, xây dựng Cứu quốc quân. Tháng 1/1941, sau khi về nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp chỉ đạo xây dựng căn cứ địa cách mạng ở Cao Bằng. Hội nghị Trung ương 8 của Đảng (tháng 5/1941) xác định chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và Nhân dân: “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang”. Thực hiện chủ trương đó, công tác xây dựng lượng vũ trang được tiến hành trong cả nước các lực lượng vũ trang du kích quân ra đời, các căn cứ địa cách mạng được thành lập ở nhiều nơi. Tháng 12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập. Tháng 5/1945, Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc kỳ quyết định thành lập Việt Nam Giải phóng quân ra đời trên cơ sở thống nhất Cứu quốc quân với Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và các lực lượng vũ trang trong cả nước, đồng thời thành lập 7 Chiến khu kháng Nhật cứu nước. Tháng 6 năm 1945, Khu Giải phóng Việt Bắc được thành lập. Đến giữa năm 1945, mọi công tác chuẩn bị về xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền đã hoàn tất.

Nhận định, chuẩn bị và chớp thời cơ cách mạng

Thời cơ cách mạng có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Bởi nếu cách mạng nổ ra đúng thời cơ và chớp đúng thời cơ, cách mạng sẽ nhanh chóng giành thắng lợi và ít tổn thất. Ngược lại, nếu cách mạng nổ ra không đúng thời cơ, cách mạng sẽ có thể thất bại, hoặc nếu giành thắng lợi nhưng sẽ bị tổn thất nặng nề. Nhận thức được tầm quan trọng của “thời cơ”, cho nên trong quá trình chuẩn bị xây dựng lực lượng cách mạng, căn cứ địa cách mạng, Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc nắm bắt tình hình khách quan của thế giới, khu vực và kẻ thù để từ đó có thể đưa ra quyết sách đúng đắn nhất.

Ngay sau khi phát xít Nhật đảo chính hất cẳng thực dân Pháp độc chiếm Đông Dương (ngày 9/3/1945), trong Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (ngày 12/3/1945), Trung ương Đảng đã nhận định sáng suốt rằng, tình hình đã có nhiều thuận lợi mới, nhưng “điều kiện khởi nghĩa… hiện nay chưa thực chín muồi”. Trên cơ sở đó, Trung ương Đảng đã đưa ra dự kiến những điều kiện thuận lợi có thể xuất hiện để thực hiện tổng khởi nghĩa như: khi quân Đồng minh kéo vào Đông Dương đánh Nhật đã bám chắc, tiến sâu trên đất ta và quân Nhật kéo ra mặt trận ngăn cản quân Đồng minh, để phía sau lưng sơ hở thì đó là lúc phát động khởi nghĩa vô cùng thuận lợi. Hoặc cũng có thể là lúc “nếu cách mạng Nhật bùng nổ, và chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật thành lập hay nếu giặc Nhật mất nước như Pháp năm 1940, và quân đội viễn chinh của Nhật mất tinh thần, thì khi ấy dù quân Đông minh chưa đổ bộ, cuộc tổng khởi nghĩa của ta vẫn có thể bùng nổ và thắng lợi”(5).

Như vậy về cơ bản, cho đến trước Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, nhận thức của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh về thời cơ cách mạng, thời cơ của tổng khởi nghĩa giành lại độc lập dân tộc đã được định hình và thể hiện rất cụ thể trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng. Nhưng vấn đề mấu chốt ở đây là, để có thể nhận thức đầy đủ những điều kiện, những thời cơ của cách mạng ấy, Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhân dân ta đã phải trải qua một quá trình đấu tranh thực tiễn đầy gian khổ và tổng kết lý luận không ngừng, với sự hy sinh của biết bao chiến sĩ, đồng bào, trên cơ sở sự vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và truyền thống đấu tranh của dân tộc, từ đó mà xây dựng nên lý luận cách mạng Việt Nam. Đó là điều kiện quan trọng nhất để những nhận thức về thời cơ và những dự đoán về thời cơ cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn luôn phù hợp với thực tiễn, với xu thế phát triển của hiện thực khách quan.

Ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Ảnh tư liệu)

Từ nhận thức nêu trên, Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã nhận định, thời cơ của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chỉ xuất hiện khi các điều kiện khách quan thuận lợi đem lại cho chúng ta: Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện, hàng ngũ chỉ huy của Nhật ở Đông Dương hoang mang đến cực điểm, quân lính Nhật tan rã, mất tinh thần, bọn Việt gian thân Nhật hoảng sợ. Đồng thời, thời cơ cách mạng xuất hiện cũng là lúc mọi công tác chuẩn bị của Đảng ta về lực lượng, đường lối, phương châm tác chiến đã hoàn thiện, khi mà cao trào cứu nước của toàn dân đã dâng lên tới đỉnh cao nhất. Các cuộc khởi nghĩa từng phần đã nổ ra và thắng lợi ở nhiều vùng. Khu giải phóng và căn cứ địa được lập ra trong cả nước, quân đội cách mạng đã được thành lập, chiến tranh du kích phát triển và lan rộng; “đội quân chính trị” của quần chúng Nhân dân bao gồm hàng chục triệu người được tập hợp trong Mặt trận Việt Minh đã sẵn sàng chiến đấu.

Tuy nhiên thời cơ này không tồn tại vĩnh viễn, không ngồi yên chờ cách mạng, mà nó sẽ biến mất khi quân Đồng minh tiến vào với cái cớ giải giáp quân đội phát xít Nhật, nhưng thực chất sẽ tiêu diệt chính quyền cách mạng, hậu thuẫn cho một lực lượng đế quốc tay sai nào đó tiếp tục thống trị Việt Nam. Trong bối cảnh đó, Trung ương Đảng nhận định, thời gian tồn tại của thời cơ cách mạng từ khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh (ngày 15/8/1945) đến trước khi quân Đồng minh vào Việt Nam (đầu tháng 9/1945). Đó là lúc kẻ thù cũ đã đứng im, nhưng kẻ thù mới chưa kịp đến, tạo thành tình thế so sánh lực lượng có lợi nhất cho cách mạng: “Phát xít Nhật đã chết gục theo phát xít Đức, Ý. Quân đội Nhật đang bị tan rã và bị tước khí giới ở khắp các mặt trận. Quân Đồng minh sắp kéo vào Đông Dương. Giờ hành động quyết liệt đã đến”(6).

Trước thời khắc lịch sử đó, Đảng đã triệu tập Hội nghị toàn quốc họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) ngày 14 – 15/8/1945, nhận định thời cơ cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền đã đến và quyết định phát động toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương với tinh thần: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta… Chúng ta không thể chậm trễ”(7).

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả dân tộc Việt Nam nhất tề nổi dậy với tinh thần: Dù hy sinh tới đâu, “dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng kiên quyết giành cho được độc lập”. Cách mạng Việt Nam nhanh chóng chuyển từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa. Nhờ có sự chuẩn bị lực lượng chu đáo, lại nổ ra đúng lúc, đúng thời cơ, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã giành được thắng lợi “nhanh, gọn, ít đổ máu”. Đó là một điển hình thành công về nghệ thuật tạo thời cơ, dự đoán thời cơ, nhận định chính xác thời cơ; đồng thời, kiên quyết chớp thời cơ, phát động toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Và đây cũng là luận cứ khoa học chứng minh sự thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam không phải là một sự “ăn may” như một số sử gia phương Tây xuyên tạc, mà nó là cả một quá trình suốt 15 năm lãnh đạo, chuẩn bị của Đảng và dân tộc ta.

Vũ Văn Chương

Tài liệu tham khảo:

  • (1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015, t.2, tr.2.
  • (2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.2, tr.2.
  • (3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.536.
  • (4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr.119.
  • (5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 7, tr. 373.
  • (6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 416
  • (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 3, tr. 596