Trong y học cổ truyền, đậu nành có tính hàn, vì vậy những người thể chất kém, tinh thần mệt mỏi hoặc có triệu chứng gout nên hạn chế dùng do dễ gây đầy bụng, chướng hơi, ợ chua và rối loạn tiêu hóa. Người bị thận hư, di tinh, tiểu đêm nhiều cũng được khuyên tránh uống sữa đậu nành vì có thể làm tình trạng nặng hơn.
Ngoài ra, một số loại kháng sinh như tetracycline hoặc erythromycine có khả năng phân hủy dưỡng chất trong sữa đậu nành, vì vậy không nên sử dụng cùng lúc. Thời gian lý tưởng là uống cách nhau ít nhất một giờ để tránh phản ứng bất lợi. Bên cạnh đó, các chất saponin và lectin trong đậu nành có thể cản trở hấp thu kẽm, nên những người thiếu kẽm hoặc cần bổ sung kẽm cần cân nhắc khi dùng thường xuyên loại thức uống này.
Đậu nành giàu đạm và được trồng phổ biến để làm thực phẩm cho người và gia súc. Cây còn góp phần cải tạo đất nhờ vi khuẩn Rhizobium cộng sinh ở rễ giúp cố định đạm tự nhiên. Trong hạt đậu tương chứa khoảng 40% protein, 12-25% lipid, 10-15% glucid cùng các khoáng chất như canxi, sắt, magie, kali và các vitamin A, B1, B2, D, E. Đây là nguồn protein hoàn chỉnh, cung cấp lượng amino acid thiết yếu đáng kể. Nhờ hàm lượng đạm cao, đậu nành được ví như “thịt không xương”, với 100 g đậu tương cung cấp lượng protein tương đương 800 g thịt bò.
Protein từ đậu nành giúp điều hòa hoạt động sống của cơ thể, vận chuyển dưỡng chất và hỗ trợ tăng cường sức đề kháng. Từ đậu nành, nhiều thực phẩm quen thuộc được chế biến như đậu hũ, sữa đậu nành… Trong đó, genistein, một hợp chất chống oxy hóa có trong đậu nành, được chứng minh có khả năng ức chế quá trình hình thành mảng xơ vữa động mạch. Một số nghiên cứu trên động vật và trong phòng thí nghiệm cho thấy genistein có thể giảm nguy cơ ung thư, hỗ trợ giảm stress. Đối với phụ nữ mãn kinh, protein đậu nành còn giúp cải thiện đậm độ khoáng của xương và giảm triệu chứng bốc hỏa.








Bình luận
Đăng nhập hoặc Tạo tài khoản để tham gia bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu