
Bệnh ung thư máu là gì?
Bệnh ung thư máu hay bệnh bạch cầu cấp là bệnh lý do các tế bào máu bị ung thư hóa trong quá trình tạo ra tế bào, những tế bào ung thư này nhân lên rất nhanh và nếu không được điều trị sẽ ứ đọng trong tủy xương và cản trở quá trình tạo ra các tế bào máu bình thường tiếp theo. Theo bác sĩ Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn bệnh ung thư máu không phải là một bệnh lý đơn lẻ mà bao gồm nhiều loại bệnh trong đó có 2 loại chính:
Bạch cầu cấp dòng tủy (AML): do các tế bào dòng tủy bị ung thư hóa như bạch cầu hạt, hồng cầu, tiểu cầu mà không phải lympho.
Bạch cầu cấp dòng lympho (ALL): do tế bào lympho bị tổn thương ung thư. Bạch cầu cấp trẻ em thường gặp ở dòng này hơn là dòng tủy.
Chẩn đoán dựa vào triệu chứng lâm sàng
Trong bệnh bạch cầu cấp, nhiều triệu chứng xuất hiện không những do sản xuất không đủ các loại tế bào máu bình thường trong tủy, mà còn do các tế bào ung thư lan tràn khắp cơ thể. Dưới đây là các triệu chứng lâm sàng mà bác sĩ đề cập đến:
Dễ bị nhiễm khuẩn:
Sốt là triệu chứng thường gặp. Đây là triệu chứng kết hợp với hiện tượng giảm số lượng bạch cầu ở máu ngoại vi.
Có thể nhiễm trùng tại một cơ quan nào đó: Hô hấp, tiết niệu ngoài da, ... Đôi khi không phát hiện được ổ nhiễm trùng nào.
Nhiễm trùng đáp ứng kém với kháng sinh
Triệu chứng thiếu máu:
Thiếu máu nhanh chóng và nặng dần
Thiếu máu không tương xứng với mức độ xuất huyết
Bệnh nhân kém thích nghi với tình trạng thiếu máu do tính chất cấp tính của bệnh
Đáp ứng kém với truyền máu
Tính chất lâm sàng của thiếu máu: Hoa mắt chóng mặt, hồi hộp tim nhanh, có cơn ngất hoặc thoáng ngất. Da xanh niêm mạc nhợt.
Nguy cơ chảy máu:
Xuất huyết dưới da.
Xuất huyết tự nhiên với đặc điểm của xuất huyết giảm tiểu cầu.
Xuất huyết dưới da: hay gặp nhất, đa hình thái, đa lứa tuổi.
Xuất huyết niêm mạc: chảy máu chân răng, chảy máu cam, nữ có thể xuất huyết từ niêm mạc tử cung: rong kinh, rong huyết.
Xuất huyết tạng: Có thể xuất huyết tiêu hóa, xuất huyết đường tiết niệu, xuất huyết cơ tim, màng tim, xuất huyết não, màng não. Nếu có nguy cơ tử vong rất cao, tiên lượng nặng.
Hội chứng thâm nhiễm:
Gan, lách thường to mức độ ít, trung bình (3 – 4 cm dưới bờ sườn). Có trường hợp to hơn nhưng ít gặp.
Hạch to nhiều vị trí: cổ, nách bẹn, ...
Đau xương: do thâm nhiễm vào màng xương
Phì đại lợi
U hạt dưới da
Phì đại cơ quan nội tạng và các cơ quan khác do xâm lấn tế bào ung thư vào các cơ quan như gan, lách, hạch. Trong một số trường hợp những tế bào này có thể xâm lấn hệ thần kinh trung ương có thể biểu hiện kích thích màng não gây nên triệu chứng đau đầu, nôn.
Thể không điển hình:
Thiếu các triệu chứng hoặc các triệu chứng không rõ ràng dễ bỏ sót hoặc chẩn đoán nhầm, hoặc có các triệu chứng hiếm gặp do thâm nhiễm của tế bào ác tính gây liệt 1/2 người, viêm khớp, to mào tinh hoàn, u xương, u dưới da, ...

Chẩn đoán bệnh dựa vào kết quả cận lâm sàng
Xét nghiệm tế bào máu - xét nghiệm máu: Trong bệnh ung thư máu, các tế bào bất thường có thể quan sát được. Số lượng bạch cầu có thể tăng hoặc giảm, giảm số lượng tiểu cầu. Trong một số trường hợp, có thể quan sát được tế bào ung thư ở máu ngoại vi.
Xét nghiệm tủy- chọc hút tủy xương: Chọc hút tủy xương là việc lấy một số lượng nhỏ mô tủy dưới dạng dịch lỏng để xác định sự có mặt của các tế bào ung thư, là yếu tố quyết định để chẩn đoán bạch cầu cấp.
Phân tích huyết thanh và nước tiểu- xét nghiệm hóa sinh: Kỹ thuật xét nghiệm này sẽ phân tích các thành phần máu và nước tiểu. Nồng độ acid uric trong huyết tương và trong nước tiểu, nồng độ LDH sẽ tăng trong bệnh ung thư máu.
Quan sát hình thái tế bào - quy trình nhuộm đặc biệt: Chuẩn bị tiêu bản máu để quan sát hình thái các tế bào máu.
Dung dịch Giemsa thường được dùng để nhuộm tiêu bản: Nhuộm đặc biệt như Peroxydase, Esterase không đặc hiệu, và PAS thường được sử dụng để xếp thể bệnh bạch cầu cấp.
Xét nghiệm phân loại tế bào- kháng nguyên bề mặt tế bào
Xét nghiệm tìm bất thường gen- tìm bất thường nhiễm sắc thể
Khả năng điều trị bệnh bạch cầu cấp
Bệnh bạch cầu cấp có tế bào ác tính khá cao, sau điều trị nếu số lượng tế bào ác tính giảm trên 99% có thể xem là thời kỳ lui bệnh hoàn toàn, không còn triệu chứng lâm sàng, máu và tủy xương trở lại bình thường hoặc gần như bình thường. Tuy nhiên, nếu còn lại dù chỉ một tế bào ung thư thì sau 40 lần phân bào sẽ sinh ra khá nhiều tế bào con, vì vậy phải kéo dài thời gian điều trị sau khi đã đẩy lui bệnh hoàn toàn.









Bình luận
Đăng nhập hoặc Tạo tài khoản để tham gia bình luận
Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu